Chào mừng bạn đã ghé thăm,
Chúc bạn Vui, Khỏe, quanh năm Phát tài.
Nỗi niềm muốn nối vòng dài,
Kết giao muôn nẻo, tương lai nối gần.
-*-
Địa chỉ: SN 328 đường Hoàng Liên, Tổ 14, phường Kim Tân, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
(từ 01/7/2025 thuộc Tổ 14 Kim Tân, Phường Lào Cai, tỉnh Lào Cai sau sáp nhập)
ĐT DĐ: 0913 089 230 - Email: luongducmen@gmail.com.

Hiển thị các bài đăng có nhãn KT Điều tra. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn KT Điều tra. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 15 tháng 8, 2022

Nhân KỶ NIỆM 65 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG LLKTHS (23/8/1957-23/8/2022)

Để thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng và nặng nề, xứng đáng là công cụ chuyên trách của Nhà nước để bảo vệ chế độ và giữ gìn ANTT, trong CAND có một lực lượng sử dụng kiến thức và phương tiện khoa học kỹ thuật để góp sức mình vào sự nghiệp chung. Đó là Kỹ thuật hình sự hay Kỹ thuật điều tra hình sự. Đây là một trong 5 bộ phận cấu thành Khoa học hình sự hay Khoa học điều tra.

Lịch sử KHHS thế giới khởi thuỷ từ những “nhận xét” ban đầu về sự vật, hiện tượng, vật chất.

Nền Khoa học hình sự hiện đại có từ trên 100 năm nay, khởi đầu từ “nhân trắc học” gắn với công lao của Alphonse Bertillon (1853-1914) vào năm 1879.

Từ khi con người phát minh ra máy ảnh (đầu tiên vào năm 1660 và hoàn thiện năm 1888, máy ghi âm kính hiển vi rồi kính hiển vi điện tử, kĩ thuật sắc kí vào năm 1903, máy Vi tính ... thì các phương tiện hiện đại này mau chóng được đưa vào sử dụng trong KTĐT tội phạm và thu được nhiều hiệu quả đặc biệt.

Ngày nay tất cả những thành tựu mới nhất của KHXH&NV, KHTN&CN đều được KHHS nghiên cứu, ứng dụng để phục vụ cho cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Lý thuyết về KHHS được giảng dạy ở các ngành: Công an, Kiểm sát, Tòa án và ngành Luật. Nhưng thực hành về KHHS tập trung chủ yếu trong ngành Công an. Bất cứ một cơ quan KHHS nào cũng bao gồm các bộ phận: Khám nghiệm hiện trường, Giám định Kỹ thuật hình sự và Pháp y, Phòng Thí nghiệm, bộ phận chụp ảnh, ghi hình.

Tại Việt Nam phải tới những năm 1955-1960 thì vai trò của KTHS mới được chính thức ghi nhận. Nhưng biện pháp này đã được chúng ta triển khai ngay từ khi Cách mạng mới thành công và trưởng thành cùng với quá trình vận động của công cuộc kháng chiến kiến quốc, thống nhất đất nước, bảo vệ tổ quốc và xây dựng CNXH.  

 Ngày đó, tuy còn non kém về tay nghề nghiệp vụ nhưng lực lượng KTHS đã lập công lớn ngay buổi đầu. Đó là: sớm làm chủ, khai thác tàng thư của địch để lại tra cứu, phát hiện hàng trăm tên mật thám, tình báo, phản động; cung cấp nhiều tài liệu quan trọng phục vụ cho việc chuẩn bị nhân sự các ứng viên Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam mới. Đặc biệt Qua KNHT và giám định đã góp phần khám phá nhiều vụ án quan trọng, như: vụ giết người, ném xác xuống hồ Trúc Bạch (1946); vụ án cướp của, giết người rất dã man xẩy ra ngày 03/8/1946 tại tiệm vàng Vĩnh Tường của nhà tư sản Nguyễn Thế Toàn ở 33 phố Lacom (nay là phố Hoàng Văn Thụ) Hải Phòng, đánh dấu bước khởi đầu tốt đẹp của KTHS Công an Việt Nam.

Để đẩy mạnh công tác KHHS đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn Cách mạng mới, ngày 21, 22, 23/8/1957 Bộ Công an tổ chức Hội nghị Kĩ thuật hình sự lần thứ Nhất tại Hà Nội và ra Nghị quyết XH-50 dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn. Những khái niệm cơ bản nhất, những nhiệm vụ trọng tâm về KHHS, về KTHS đã được chính thức đề cập. Hiện nay một số luận điểm tại Nghị quyết không còn phù hợp nhưng khi đó Nghị quyết thực sự trở thành cẩm nang để các địa phương, đơn vị xác định phương hướng xây dựng ngành, tiến hành biện pháp công tác KTHS, là tiền đề cho sự phát triển của KHHS trong các giai đoạn sau. Chính vì ý nghĩa quan trọng đó của Hội nghị này mà tháng 6/1998, Bộ trưởng BCA Lê Minh Hương đã nhất trí, sau đó ngày 02/4/2002, Bộ trưởng Lê Hồng Anh đã ký Quyết định chính thức lấy ngày 23 tháng 8 hằng năm làm Ngày Truyền thống của lực lượng KHHS Việt Nam.

Tại Lào Cai (cũ) Cách mạng thành công trong cả nước từ tháng 8/1945 nhưng đến 19/10/1946 Lào Cai mới được giải phóng khỏi ách Việt Nam Quốc dân đảng. Sau đó, đến cuối năm đó CA Lào Cai chính thức được thành lập trong bối cảnh tình hình ANTT rất phức tạp. 

Trong buổi sơ khai ấy Lực lượng CA non trẻ đã cố gắng vượt bậc,  góp phần giữ  vững ANTT trong những ngày rối ren phức tạp ấy. Khi đó CA Lào Cai đã thực hiện biện pháp KNHT sớm tìm ra thủ phạm sát hại lẫn nhau giữa 2 con bạc xẩy ra vào một đêm tháng 2/1947 ở Phố Tèo, Tx Lào Cai, kịp thời chặn đứng được ý đồ kẻ địch lợi dụng vu khống để kiếm cớ lật đổ chính quyền dân chủ non trẻ.   

Hoà bình lập lại,  cùng với cả nước CA Lào Cai nhanh chóng chuyển hướng để phục vụ công cuộc khôi phục, phát triển kinh tế,  giải quyết tàn dư của chế độ cũ,  tiễu phỉ, chống xưng vua, đấu tranh với bọn gián điệp, biệt kích Mĩ nguỵ, rồi chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mĩ, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân. Trong công tác tiễu phỉ, bắt, diệt biệt kích, gián điệp; ngăn chặn các vụ phá hoại; dập tắt các vụ xưng đón “vua”,  các vụ bạo loạn CA Lào Cai đã lập được nhiều thành tích. Để thuận tiện cho công tác điều tra khám phá các vụ án hình sự, sau Hội nghị Khoa học hình sự lần thứ Nhất (21-23/8/1957) công tác KTHS chính thức được triển khai ở Lào Cai và Thông tư liên bộ số 423  ngày 12/5/1961 về giám định pháp y, ngay từ năm 1958, ở Lào Cai đã hình thành Hội đồng giám định Pháp y với 3 thành viên.

Từ 1962, bộ phận KTHS tách về Phòng Kĩ thuật nghiệp vụ theo Thông tư số 88/TCCB. Và ngay sau đó, lực lượng này đã thu thập và giám định tự dạng những tờ rơi có nội dung phản động xuất hiện  ngày 10/01/1963 tại địa bàn thôn Cóc, Bảo Thắng. Ngày 30/7/1975 Phòng Trinh sát Kĩ thuật (PK67) Công an Lào Cai tham mưu cho tỉnh mở Hội nghị liên ngành gồm đại diện lãnh đạo Ty Công an, Ty Y tế, Bệnh viện tỉnh, Viện KSND tỉnh  bàn và thống nhất quy định trách nhiệm thực hiện khám nghiệm, giám định.

Sau khi đất nước thu về một mối, tỉnh Lào Cai cùng với Yên Bái và phần lớn tỉnh Nghĩa Lộ hợp nhất thành tỉnh Hoàng Liên Sơn và Ty CA Hoàng Liên Sơn được thành lập với có 20 phòng, ban và các CBCS KTHS thuộc  Đội 5 thuộc Phòng TSKT với cán bộ KTHS từ 3 tỉnh và Công an khu Tây Bắc chuyển về.

Việc phối hợp với các ngành, đặc biệt là y tế mở đàu bằng việc ngày 20/01/1976 Ty Công an Hoàng Liên Sơn đã xây dựng và được các ngành nhất trí thông qua bản Quy định về tổ chức, lề lối làm việc, chế độ phương tiện cho công tác pháp y ở tỉnh. Tiếp theo, tỉnh Hoàng Liên Sơn có Quyết định về việc thành lập HĐGĐPY gồm 9 GĐV cấp tỉnh, 16 GĐV cấp huyện. Sau 02/1979, rồi các năm 1980, 1981, Công an tỉnh thường xuyên tham mưu để UBND tỉnh có các Quyết định bổ sung thay thế GĐV. Đến 21/10/1981 Bác sĩ  Lương Đức Mến từ C21 Bộ Nội vụ về nhận công tác tại Phòng CS Điều tra xét hỏi-Khoa học hình sự (PC 16+21). Từ đó có PYCA trong CAHLS. Năm 1982, Bs Mến được UBND tỉnh bổ nhiệm là Uỷ viên Thường trực kiêm Thư kí Hội đồng giám định Pháp y tỉnh.

Khi triển khai học tập và thực hiện Chỉ thị số 92/CT ngày 25/8/1980 của Ban Bí thư về "xây dựng lực lượng CAND trong sạch, vững mạnh và đẩy mạnh phong trào quần chúng bảo vệ ANTQ trong tình hình mới", Chỉ thị 92-CT/TW ngày 25/6/1980 của Bộ Chính trị về Nhiệm vụ bảo vệ An ninh, Trật tự trong tình hình mới và Nghị định 250/CP  ngày 12/6/1981 của Hội đồng Chính phủ về Nhiệm vụ, quyền hạn, Tổ chức bộ máy của lực lượng CAND,  CA Hoàng Liên Sơn  từ 25 phòng còn 18 phòng với 2 BCH. Khi đó, KTHS từ Phòng TSKT thuộc lực lượng an ninh tách ra nằm trong Phòng Cảnh sát điều tra xét hỏi-Kỹ thuật hình sự theo Quyết định ký ngày 10/7/1981 của Thứ trưởng Trần Đông. Đến Tháng 5/1985 Phòng PC 21 được thành lập.

Trong thời kì đó PC 16+21, sau này là PC 21 Hoàng Liên Sơn đã có nhiều cố gắng trong việc tham mưu cho lãnh đạo CA tỉnh xây dựng các biểu mẫu phục vụ khám nghiệm, giám định và củng cố hoạt động của HĐGĐPY tỉnh. Một số chuyên án lớn thành công có đóng góp của KTHS.  

Khi Bộ luật TTHS được ban hành (28/6/1988) và Chính phủ có Nghị định số 117/HĐBT về Giám định tư pháp, PC 21 đã đề xuất để Giám đốc Công an tỉnh tham mưu  UBND tỉnh ra Quyết định thành lập các Tổ chức giám định  pháp y ở 3 khu vực (Trung tâm, Phía Bắc, Phía Tây) với 39 GĐV và TCGĐ Kĩ thuật hình sự-pháp y thuộc Công an tỉnh với 9 GĐV. Đồng thời làm thủ tục đề nghị và ngày 01/4/1989 Viện trưởng Viện KHHS  đã ký Quyết định công nhận 7 Giám định viên, trong đó có 2 là Giám định viên cao cấp (đ/c Lương Đức Mến và đ/c Phạm Xuân Trường) trong tổng số 113 GĐVCC ở CA các tỉnh trên toàn quốc. Ngày 25/4/1990 Đại úy Bác sĩ Lương Đức Mến được bổ nhiệm giữ chức vụ Trưởng phòng PC21 Công an tỉnh Hoàng Liên Sơn (Quyết định số 04 CAQĐ do Đại tá Hoàng Tuyển ký) thay đ/c Thiếu tá Hoàng Sáng nghỉ hưu từ 5/1990; Đ/c Nguyễn Đình Hưởng được đề bạt Phó trưởng phòng.

Khi Lào Cai được tái lập (01/10/1991), theo Quyết định số 150/QĐ-BNV ngày 16/9/1991 bộ máy của CA tỉnh Lào Cai có 20 phòng ban. PC21 Lào Cai tách từ PC21 Hoàng Liên Sơn ra thuộc BCHCS gồm: Trưởng phòng  và 6 CBCS , gồm: Nguyễn Văn Quý (PY), Đinh Công Nghĩa (KTHS), Nguyễn Đức Quang, Lê Văn Giang, Nguyễn Viết Tú, Nguyễn Văn Thành (HL và SD CNV). Nhưng thực lên Lào Cai chỉ có 4 người còn các đ/c HLSDCNV vẫn ở lại Yên Bái và sau đó cắt hẳn quân số sang CA Yên Bái..

Tại nơi tập kết ở khu Cung ứng mỏ, cả đơn vị được bố trí 2 gian nhà cấp 4. Tuy ít quân và đa số chưa qua KTHS nhưng đơn vị đã  triển khai ngay các công tác KNHT và giám định từ sáng khi vừa đặt chân đến. Để đáp ứng kịp thời các yêu cầu giám định trong các vụ việc có tính hình sự, CA tỉnh, Sở Tư pháp đã tham mưu và được UBND tỉnh nhất trí: các Giám định viên đã được UBND tỉnh Hoàng Liên Sơn  cũ bổ nhiệm sẽ tiếp tục làm nhiệm vụ GĐV trên địa bàn mình công tác. Sau đó UBND tỉnh Lào Cai đã ra Quyết định thành lập 02 TCGĐ là: TCGĐ Kĩ thuật hình sự-Pháp y với các GĐV công tác tại Công an tỉnh và TCGĐ pháp y với các GĐV công tác tại Trung tâm y tế các Huyện, Thị xã. Chính việc tham mưu kịp thời đó của Phòng KTHS (Công an tỉnh), Phòng Quản lí Công chứng, Luật sư, Giám định (Sở Tư pháp) đã giúp UBND tỉnh sớm có Quyết định đáp ứng kịp thời, đầy đủ, không gián đoạn các yêu cầu giám định tại địa phương. Cùng với toàn ngành, LLKTHS nhanh chóng ổn định,  khắc phục mọi khó khăn ở nơi mới; vừa ổn định, vừa củng cố xây dựng, vừa xin bổ sung quân số[1], củng cố tổ chức[2] vừa triển khai các biện pháp nghiệp vụ theo chức năng được phân cấp đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng ngừa tội phạm trên một tỉnh mới tái lập. Đồng thời đơn vị đã tham mưu cho Giám đốc Công an tỉnh triển khai Chỉ thị số 08/CT-BNVngày 15/5/1990 của Thứ trưởng Phạm Tâm Long về củng cố và tăng cường công tác KTHS Công an cấp huyện; Chỉ thị số 02/TTg ngày 04/01/1993 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác Khoa học hình sự; Chỉ thị số 23/CT-BNV ngày 15/12/1993 của Bộ trưởng Bùi Thiện Ngộ về tăng cường công tác Kĩ thuật hình sự; phối hợp với Sở Tư pháp mở nhiều lớp tập huấn về KNHT, GĐPY cho ĐTV, KSV, GĐV toàn tỉnh về các điều luật trong Bộ luật TTHS liên quan đến công tác KNHT, giám định tư pháp và các văn bản khác liên quan.

Chính vì vậy ngay trong những tháng ngày trên địa bàn mới, PC 21 Lào Cai đã góp phần cùng toàn lực lượng tham gia xử lý nhiều vụ việc phức tạp. Có thể kể đến: vụ nổ làm chết tại chỗ 1 Sĩ quan D7 là Đỗ Vũ Hùng và chết trên đường đi cấp cứu 1 sĩ quan khác cùng đơn vị tên là Nguyễn Tú Lân xẩy ra ngày 09/10/1991 tại quán nước chị Hải ở Cốc San, Bát Xát; vụ chị Điền Thị Thú bị chồng giết, đẩy xác xuống thác nước Hợp Thành, Tx Cam Đường để giả tạo hiện trường ngày 12/01/1992; đề xuất giám định dấu vết súng đạn cung cấp chứng cứ quyết định buộc tên Lã Thanh Bình từng gây nhiều vụ cướp của giết người trong những năm 1989, 1990 phải chịu hình phạt cao nhất[3]; vụ sập nhà vòm (kho lương thực cũ, sót lại sau CT 2/1979) ở Tổ 4 phường Cốc Lếu, thị xã Lào Cai 28/12/1992 làm chết 4 người thuộc đơn vị C25 E174 F316; vụ án giết ông Thào A Hồ xẩy ra ngày 03/01/1993 tại vườn su hào thuộc Đội 2 Nông trường Sa Pa…Ngoài ra đơn vị còn cử cán bộ tham gia bảo vệ các sự kiện lớn của tỉnh, như : bảo vệ an toàn chuyến thăm và làm việc tại Lào Cai của đ/c TBT Đỗ Mười vào ngày 22/4/1993; bảo vệ an toàn Lễ cắt băng thông Cầu Kiều, mở lại cửa khẩu Quốc tế Lào Cai  sau 16 năm băng giá vào ngày 18/5/1993 hay mở Hội thảo Khoa học thực tiễn chuyên đề: Giám định Pháp y với Điều tra hình sự có 41 đại biểu của các ngành: CA,  KS,  TA,  YT,  TP,  một số GĐY pháp y và đoàn PC 21 công an tỉnh Yên Bái tham dự.

Khi đơn vị rời điểm tập kết chuyển lên trụ sở chính thức ở đường Hoàng Liên, phường Kim Tân thị xã Lào Cai, bên cạnh các lĩnh vực đã từng thực hiện từ trước, năm đầu thực hiện Chỉ thị số 23/CT-BNV ngày 15/12/1993, đã triển khai giám định ma túy, ban đầu chủ yếu với biện pháp so mầu, sau kết hợp với SKLM. Trước kia việc GĐ chất ma tuý chưa tập trung về một mối, bên Y tế cũng tiến hành. Nhưng sau 1995 hầu hết do đơn vị đảm nhận, nhất là từ khi thực hiện chương trình hành động phòng chống ma tuý giai đoạn 1998-2000 (ban hành kèm theo Quyết định số 139/1998/QĐ-TTg ngày 31 tháng 7 năm 1998 của Chính phủ), đặc biệt là từ khi có Luật phòng, chống ma tuý  (việc GĐ chất MT và sản phẩm của nó trong cơ thể được quy định tại Khoản d, Điều 38) thì đơn vị đã được đầu tư tương đối tốt để triển khai việc GĐ các chất MT thông thường và dấu vết cuả nó trong cơ thể người đã sử dụng. Điều này đã đáp ứng được tính kịp thời, khoa học trong công tác. Việc giám định Giấy tờ xe, tiền nghi giả được triển khai rộng rãi đã góp phần đáp ứng kịp thời các yêu cầu tại địa phương.

Chính những cố gắng thành tích trên nên đơn vị và nhiều cá nhân đã nhận được Bằng khen của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tổng cục CS, Tổng cục XDLL, UBND tỉnh, Công an tỉnh, Sở tư pháp và Đảng uỷ CA tỉnh. Đơn vị liên tục đạt danh hiệu “Đơn vị Tiên tiến”, nhiều năm đạt “Đơn vị Quyết thắng”; nhiều lượt CBCS đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh, toàn lực lượng và CSTĐ cơ sở. Nhiều lượt CBCS được Thủ trưởng CQ CSĐT khen thưởng, được giao trọng trách mới.

65 năm KTHS, 5 năm trong ngôi nhà KTHS Hoàng Liên Sơn, 30 năm trong đội hình CAND tỉnh Lào Cai, lực lượng KTHS chuyên trách và bán chuyên trách của CA Lào Cai, các đơn vị có chức năng tổ chức KNHT, trưng cầu giám định, đánh giá KLGĐ của CQĐT CA tỉnh và CA cấp huyện đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; đóng góp chung vào thành tích bảo đảm an ninh trật tự của CA tỉnh, góp phần kiềm chế được sự gia tăng của các loại tội phạm, giữ vững được ANCT và TTATXH phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương.

Có được thành tích, kết quả đó ngoài sự nỗ lực của CBCS KTHS chuyên trách, bán chuyên trách là sự lãnh đạo chỉ đạo của BCHĐU, BGĐ CA tỉnh, của các Phòng và CA các huyện thành phố. Đồng thời phải kể đến sự phối hợp có hiệu quả của Sở Tư pháp, Sở Y tế, Sơ KHCN, Sở Tài chính và những trao đổi bổ ích của các đ/c trong cơ quan điều tra, truy tố, xét xử và các Luật sư trên địa bàn tỉnh.

Là người gắn bó với công tác này từ 1981 và trên cương vị lãnh dạo đơn vị từ 1985, Trưởng phòng từ 1990 tôi có nhiều kỷ niệm. Đến tháng 4/2012 tôi chính thức nhạn sổ nhưng vẫn còn băn khoăn mấy việc đang dang dở. Đó là:

1. Áp dụng hiệu ứng “Trộn thư” Mail Merge để tạo mail hàng loạt trong Word 1997 để nhập dữ liệu và xuất ra các Biên bản giao nhận, Kết luận giám định, Báo cáo thường kỳ trong Giám định Ma túy, Giám định Pháp y thương tích, Báo cáo Tháng...

2. Thực hiện viẹc vẽ Sơ đồ Hiện trường trên MVT cho đẹp, được CQTHTT và đoàn kiểm tra của Tổng cục II đánh giá cao. Riêng việc vẽ Sơ đồ Hiện trường 3D đã thử nghiệm !

3. Dùng hàm CORREL trong Exel để  tìm sự tương quan giữa hai mẫu khi giám định truy nguyên chữ viết, kỹ thuật tài liệu hay nguồn gốc ma túy.

4. Do giáp với Trung Quốc nên nhiều yêu cầu giám định, khám nghiệm phải tiếp cận với chữ Hán mà CBCS khi gặp phải thường chép là “có x chữ Trung Quốc”...nên đã tự tìm và tải nhu liệu Hanosoft Tool về để gõ và chèn chữ Hán vào các Báo cáo, Kết luận giám định.

Rất tiếc, đó là những chuyên môn sâu, không thể thu lợi ngay trước mắt nên khó được quan tâm, tiếp nhận.

Theo quy định, 02/3/2013 tôi được nghỉ chờ hưu và đến 01/4/2014 nhận sổ đến nay đã được 8 năm. Nhớ lại bài thơ viết và đọc hôm đó. Xin được trích đọc:

Bao lần nắng Hạ, gió Đông,

17 huyện thị bước cùng anh em.

Đến khi tách tỉnh về biên,

Vẫn yên nghiệp cũ nhiều phen ngập ngừng. 

 

Bãi sông, đường lớn, mái rừng,

Phố đông, bản vắng đều từng đã qua.

Kia vụ trộm, nọ cháy nhà,

Đây vụ án mạng hay là không may?

Phải đâu tất cả phơi bày,

Có đi nhập cuộc mới hay khôn cùng.

Này Quai, này Xoáy, này Cung,

Đâu đường tách nhánh, đâu vùng hợp biên.

Chữ này nét móc, nét xiên,

Chữ kia quai thắt, nét liền run run.

Ấn chỉ này chẳng cùng khuôn,

Chắc rằng giấy giả thêm buồn người mang.

Sắc đồ hợp vạch rõ ràng,

Là ma túy đó cùng “nàng tiên nâu”.

Đây người ai oán cơ cầu,

Mức di chứng ấy xếp đâu cho vừa?

Buồn vui trong việc kiểm tra,

Giám sát rành rọt thực là nghiêm minh.

 

Ra đi khi tóc còn xanh,

Nay đầu bạc mái, nghiệp ngành chia tay.

Ngoảnh nhìn thoáng chút men say,

Tình này gửi lại những ngày xa xưa.

Ba Hai năm sống trong nghề,

Lời khen đã lắm; tiếng chê cũng nhiều.

Mặc ai nắng sớm mưa chiều,

Riêng ta ta vẫn ghét - yêu rõ ràng.

Mặc ai lựa việc cao sang,

Riêng ta, “Kỹ thuật” thủy chung trọn đời.

Nay việc ấy sắp xa rồi,

Phòng kia, dấu ấy gửi người lớp sau.

Ra về xin nhắn một câu:

Tình yêu Kỹ thuật trước sau ngọn ngành.

 

Ba Chín năm nặng nghĩa tình,

Về hưu vẫn nhớ đinh ninh lời thề.

Nhớ Sáu điều dạy Bác Hồ,

Nhớ tình đồng đội, nhớ nghề đã theo.

Tình riêng chẳng biết nói nhiều,

Gửi người ở lại đôi điều trao nhau.

Nghĩa tình có trước có sau,

Niềm vui san sẻ, nỗi đau chia cùng.

Anh em quyết một chữ “đồng”,

Sao cho mẫu mực cùng chung chuyên cần.

Cuối cùng, tôi chỉ muốn nhắn gửi các bạn rằng: nghề KTHS, PY rất khó HTNV chứ chưa nói HTXS nếu chúng ta không có tâm huyết, không chịu khó học hỏi, tự học, tự cập nhật, nâng cao kiến thức.

Nghề của ta tuy khó nhưng cũng rất dễ làm giàu, nếu chúng ta thiếu sự tỉnh táo, thiếu lương tâm trách nhiệm mà chỉ biết cố làm giàu bằng mọi giá! Nghề này không “tiết lộ thiên cơ” như thầy bói, chẳng “Cưỡng lại mệnh trời” như thầy cúng mà chỉ bổ trợ để ra và chứng minh sự thật như nó vốn có bằng chứng cứ vật chất. Bởi vậy nó bền vững và thường được hưởng hồng phúc lúc cam go.

Kinh nghiệm đời tôi, tôi biết “giúp người đâu để mong người trả ơn” nhưng cuộc đời sẽ ban ân huệ cho chúng ta. Các bạn hãy tin tôi đi!


            [1] Ngày 08/11/1991 Giám đốc Công an tỉnh ra Quyết định số 07/CAQĐ bổ nhiệm đ/c Nguyễn Văn Quý làm Phó trưởng phòng.

[2] Do ít đảng viên nên khi thành lập PC 21 Lào Cai, các ĐV sinh hoạt ghép với Chi bộ PC 16 (BCU chi bộ ghép được thành lập bởi Quyết nghị số 01/QN, ngày 31/10/1991). Cuối năm 1992, do bổ sung thêm đ/c Phạm Văn Cường từ CA Bát Xát ra nên đã đủ điều kiện thành lập Chi bộ (đ/c Hoàng Công Tế, Phó Giám đốc sinh hoạt cùng). Ngày 27/02/1993, Đảng ủy có Quyết định số 12 tách lập chi bộ PC21 từ Chi bộ ghép PC16+21. Đ/c Lương Đức Mến giữ chức Bí thư.

             [3] Bản án thi hành ngày 21/4/1993 là trường hợp tử hình đầu tiên ở tỉnh Lào Cai mới và cũng là trường hợp duy nhất việc tử hình được tiến hành tại một bãi trống thuộc địa bàn xã Đồng Tuyển, cạnh cầu km 4 (từ 1994 là đường dẫn lên Bệnh xá Bộ CHQS tỉnh và từ 2009 là đường lên Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Lào Cai).

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2022

DO BỊ NỔ MÌN CHỨ KHÔNG PHẢI CHỞ THUỐC NỔ

Tuần sau, vào ngày 23/8/2022 là kỷ niệm 65 năm ngày truyền thống của lực lượng Kỹ thuật hình sự Công an nhân dân, nhớ phương châm KHÁCH QUAN, THẬN TRỌNG, TỈ MỈ, KỊP THỜI, KHÔNG BỎ SÓT DÂU VẾT, KHÔNG KẾT LUẬN SAI và lại nhớ đến vụ án mà mình có tham gia từ cách đây gần 40 năm.

Hồi đó quan hệ Việt Nam-Trung Quốc còn căng thẳng sau cuộc chiến 2/1979 và trên địa bàn tỉnh Hoàng Liên Sơn (hợp nhất từ Lào Cai, Yên Bái, Nghĩa Lộ năm 1976) thì tình hình an ninh trật tự các huyện phía bắc khá phức tạp. Do vậy những sĩ quan trực tiếp tiến hành các biện pháp nghiệp vụ như chúng tôi hầu như có mặt (để thực hiện các biện pháp chuyên môn nghiệp vụ) tại địa bàn mà sau 1991 là tỉnh Lào Cai còn nhiều hơn ở cơ quan và gia đình (đóng “đô” tại thị xã Yên Bái).

Hồi ấy, chiều ngày 10/8/1984 tại khu vực Km 1+500 thuộc địa bàn xã Mường Khương, huyện Mường Khương xẩy ra vụ nổ làm lật xe khách BKS 21A-16-74 (trên đường từ Mường Khương ra Phố Lu thuộc huyện Bảo Thắng), gây chết 10 người, bị thương 23 người, xe hỏng nặng.

Vụ nổ gây hoang mang trong dân chúng, các cơ quan chức năng của huyện và tỉnh kèm những nhận định chưa dễ thống nhất về tính chất, nguyên nhân vụ việc.

Khi đó, tỉnh lị đóng ở thị xã Yên Bái và phương tiện giao thông của các cơ quan thiếu thốn, đường 7 nhiều đoạn hỏng nặng, nhiều cây cầu từ Bắc Ngầm trở lên bị sập hồi xẩy ra cuộc chiến 279 chưa kịp làm lại nên việc tiếp cận hiện trường rất chậm. Do vậy, mặc dù đi cả đêm nhưng đến chiều 11/8 cuộc KNHT mới được bắt đầu.

Chỉ với 1 trinh sát điều tra, 1 kỹ thuật hình sự, 1 bác sĩ, 1 kiểm sát viên (không rồng rắn như sau này) nhưng 10 tử thi được khám nghiệm kĩ và nhận dạng tỉ mỉ, khẩn trương, xác định được danh tính các nạn nhân.

Việc khám nghiệm hố nổ và tình trạng xe khá chu toàn, tỉ mỉ nên Hội đồng khám nghiệm cũng như Đoàn công tác điều tra tại hiện trường (danh xưng các “tổ chức lâm thời” ngày đó nhưng hiện nay đã mất hẳn và thế hệ trẻ hầu như không biết tới thuật ngữ này) đã kết luận được: xe bị lật do tác động “nổ” của  mìn đặt dưới đất chứ không phải thuốc nổ đặt trên xe.

Từ kết quả đó, Ban Giám đốc Công an tỉnh đã nhận định đây là vụ án nằm trong âm mưu “phá hoại nhiều mặt” của địch, chứ không phải do sự cố vận chuyển chất nổ trên xe như có dư luận, ý kiến ban đầu từng nêu ra.

Bằng các biện pháp nghiệp vụ, cơ quan công an đủ căn cứ để ngày 19/8/1984 bắt tên LVC.

Tại Nhà Tam giữ và Trại Tam giam, LVC đã khai nhận là bị kẻ xấu bên kia biên giới bắt, khống chế buộc phải nhận lời làm việc cho chúng.

Theo đó, khi được huấn luyện thành thạo, LVC đã quay về đào trộm 2 quả mìn chống tăng loại TM57 (mà hồi 1979-1980 ta chôn tại khu vực biên giới) rồi đem gài trên Quốc lộ đoạn Mường Khương đi Bản Lầu, mỗi quả cách nhau 200m.

Một trong 2 quả đã bị kích nổ khi xe khách BKS 21A-16-74 đi qua và gây ra vụ án trên.

 Lời khai nhận đó phù hợp với hiện trường và thực nghiệm điều tra. Quả mìn thứ hai  theo lời khai của LVC đã được công binh tìm thấy, gỡ bỏ, vô hiệu hóa. Việc điều tra vụ án đã khép lại.

Điều đáng nhớ là người thuật lại chuyện này, ngày hôm trước (09/8/1984) vừa đi qua đoạn đường đó  khi cùng Ban Chuyên án 882 S từ Mương Khương về tỉnh báo cáo. Chắc do xe Wat nhẹ chưa đủ kích nổ cho mìn chống tăng như xe chở khách! Nếu nó nổ thì chưa biết ra sao!!! Trong bản ảnh vụ nổ mìn đó có hình ảnh chiếc xe khách BKS 21A-16-74 tại bến xe Mường Khương chính là chụp vào dịp đó chứ cán bộ KTHS đâu có “tài” tiên đoán gì mà chụp nó lúc xuất phát hôm bị nạn ngày 10/8.

Còn người trực tiếp khám nghiệm hố nổ, xe khách gặp nạn hiện đang sinh sống tại Hà Nội và chúng tôi cũng đã quên nhiều chi tiết. Chỉ nhớ rằng: ngày đó chưa có “phong trào” đề nghị các cấp khen thưởng như sau này nên sau khi hoàn thành hồ sơ để chuyển cho cơ quan chức năng và gửi lưu trữ là chúng tôi lao ngay vào thụ lý vụ việc khác!

-Lương Đức Mến, 12/8/2022, soạn lại bài đã viết từ 2 năm trước-

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Hai, 23 tháng 8, 2021

Về NGÀY TRUYỀN THỐNG CỦA LLKTHS CAND

Lạ một cái, ở xứ “cây tre, cây lúa” này rất lắm Lễ Hội và Ngày Truyền thống nhưng chả mấy ai hiểu cội nguồn của những ngày đó và khá nhiều người, đôi khi cả lãnh đạo (ngành, nghề, địa phương, đơn vị) nhầm lẫn giữa NGÀY TRUYỀN THỐNG và NGÀY THÀNH LẬP!!

Riêng trong LLCA, bị gò bó bởi nhưng quy định BẢO MẬT và do chủ trương LUÂN CHUYỂN CÁN BỘ nên “người trong cuộc” còn lơ mơ nói gì đến tuyên truyền! Do vậy ít người biết đến công việc “thầm lặng toàn cục” và nhận được ít sự cảm thông của chúng dân!

Là hưu nhân, không bị “vướng” bởi những quy định cứng nhắc và xét thấy cũng chả “phạm quy” gì nên nhân Kỷ niệm 64 năm ngày Truyền thống LLKTHS (23/8/1957-23/8/2021), tôi viết bài này, trên cơ sở bài cũ viết nhân 60 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG LLKTHS CAND (23/8/1957-23/8/2017):

Kỹ thuật hình sự nói riêng và Khoa học hình sự[1] nói chung trên thế giới đã có lịch sử từ lâu đời. Nhưng tại Việt Nam phải tới những năm 1955-1960 thì vai trò của KTHS mới được chính thức ghi nhận. Nhưng biện pháp này đã được chúng ta triển khai ngay từ khi Cách mạng mới thành công và trưởng thành cùng với quá trình vận động của công cuộc kháng chiến kiến quốc, thống nhất đất nước, bảo vệ tổ quốc và xây dựng CNXH. Mặt khác, dưới các chế độ cũ thời quân chủ[2], thời Pháp thuộc hay chế độ Việt Nam Cộng hòa cũng có thực hiện biện pháp này rất khó tìm tư liệu.

Tháng 8/1945 cùng với việc ra đời của chính quyền dân chủ, các tổ chức đầu tiên của Công an Việt Nam hình thành. Khi đó, để có đủ lực lượng đảm nhận công việc bộn bề sau ngày giành chính quyền, Đảng đã tăng cường, bổ sung cán bộ cho Công an[3]. Đó là cán bộ của Đảng, của Mặt trận Việt Minh cử sang; các cán bộ, chiến sĩ Giải phóng quân; các hội viên đoàn thể quần chúng bổ sung; những thanh niên yêu nước, có tri thức, sức khỏe, nhiệt tình đã từng tham gia các tổ chức cứu quốc lúc bấy giờ và có cả những nhân viên lưu dung. Vì thiếu cán bộ chuyên môn, chưa kịp đào tạo và thực hiện đường lối Đại đoàn kết của Bác Hồ nên một số “nhân viên cũ, hạnh kiểm xứng đáng và có đủ sức khoẻ...” được lưu dung[4]  theo Nghị định ngày 24/9/1945 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp.

Trong các bộ phận cấu thành lực lượng công an thời đó đã có các đơn vị tiền thân của lực lượng Kĩ thuật hình sự là các Ban Căn cước gồm những CBCS chiếm lĩnh phòng hồ sơ, bộ phận căn cước của Sở Liêm phóng và một số người lưu dung mà tiêu biểu là ông Nguyễn Địch Trung (1909-1984) [5]. Khi đó tổ chức của KTHS được hình thành, là các phòng (ban) căn cước nằm trong Sở Liêm phóng, Sở Cảnh sát Bắc bộ, Sở Trinh sát Trung bộ, Quốc gia tự vệ cuộc Nam bộ và khắp các ty Trinh sát trong cả nước. Đây là những hạt nhân quan trọng cho việc hình thành, hướng dẫn chuyên môn, đào tạo cán bộ và phát triển công tác Kĩ thuật hình sự của Việt Nam.

Ngày 21/02/1946: Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 23/SL sát nhập các tổ chức Công an đầu tiên thành Việt Nam Công an vụ sau đó Bộ Nội vụ ra Nghị định số 121/NĐ ngày 15/4/1946 quy định về tổ chức của Việt Nam Công an vụ[6] thì các Ban căn cước thuộc Ty Chính trị. Đồng thời, ngay trong những ngày trứng nước đó, đã có: Sắc lệnh 68/SL ngày 30/11/1945 và Sắc lệnh số 162/SL ngày 25/6/1946 của Chính phủ về “trưng dụng”, “trưng tập” nhân viên y tế phục vụ công tác điều tra, xét xử. Đó là những văn bản pháp lý đầu tiên có đề cập đến pháp y, giám định pháp y nói riêng và giám định tư pháp nước nhà nói chung.

 Nhờ những quyết sách đúng đắn đó nên tuy còn non kém về tay nghề nghiệp vụ nhưng lực lượng KTHS đã lập công lớn ngay buổi đầu. Đó là: sớm làm chủ, khai thác tàng thư của địch để lại tra cứu, phát hiện hàng trăm tên mật thám, tình báo, phản động; cung cấp nhiều tài liệu quan trọng phục vụ cho việc chuẩn bị nhân sự các ứng viên Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam mới. Đặc biệt Qua KNHT và giám định đã góp phần khám phá nhiều vụ án quan trọng, như: vụ giết người, ném xác xuống hồ Trúc Bạch (1946); vụ án cướp của, giết người rất dã man xẩy ra ngày 03/8/1946 tại tiệm vàng Vĩnh Tường của nhà tư sản Nguyễn Thế Toàn ở 33 phố Lacom (nay là phố Hoàng Văn Thụ) Hải Phòng, lực lượng KTHS đã góp công đầu. Chính KNHT, thu và giám định dấu tay để lại trên hộp sơn mài chính xác đã chứng minh được bọn gây ác giết 10 người, cướp của có tên Jean Jacque Presil, George (tây lai) và tên Yến là tay sai đóng ở trại Lạc Viễn, Hải Phòng gây ra. Việc này buộc Pháp phải thừa nhận, đánh dấu bước khởi đầu tốt đẹp của KTHS Công an Việt Nam.

Trong những năm kháng chiến kiến quốc, cả nước được chia làm 12 Khu, các cơ quan đầu não đã tạm rời Thủ đô lên ATK Việt Bắc. Lúc này lực lượng KTHS phải tận dụng các công cụ thô sơ để bảo quản và vận chuyển căn cước, tài liệu, phương tiện lên ATK vừa khai thác phục vụ công tác đánh địch, vừa trực tiếp thực hiện bảo mật phòng gian, tham gia phá án, chống càn.

Mặc dù bận bao việc của kháng chiến gian khổ, năm 1948 Ty Tuyên- Nghiên - Huấn đã cho xuất bản cuốn Khoa dấu vết (tập 1) và Tả nhân dạng (tập 2), tiếp năm 1949 cho ra đời cuốn Khoa điểm chỉ và 1950 là cuốn Khoa tả nhận dạng phổ thông. Đây là những tài liệu đầu tiên đặt nền móng cho việc đào tạo cán bộ. 110 nhân viên căn cước được đào tạo tại Tuyên Quang sau này trở thành hạt nhân công tác KTHS các địa phương.

Ngày 15/01/1950 tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ V, lần đầu tiên Đề án về căn cước đã được đề cập cả về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ. Hội nghị đã xác định: “Cần phải chấn chỉnh lại tổ chức và hoạt động để chuẩn bị cho thời bình và có đủ điều kiện thuận lợi để phát triển, làm tròn nhiệm vụ của nó…”. Theo định hướng đó, ngày 02/9/1950 Liên bộ Tư pháp-Nội vụ ra Thông tư liên bộ số 1909-VHC về theo dõi lý lịch căn cước bị can và người bị tình nghi, giao cho các Phòng căn cước lập căn cước người bị bắt.

 Ngày 12/5/1951 Ban Bí thư TW Đảng ra Chỉ thị số 05-CT/TW về nhiệm vụ và tổ chức Công an. Năm 1952 Ban Bí thư TW Đảng ra Nghị quyết số 26-QN/TW ngày 23/11 về công tác Công an, Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 7 (22-29/8) đã ra 7 kết luận về công tác Công an đều nói đến điều tra và việc lập căn cước, coi đó là một nhiệm vụ quan trọng của Công an.

Ngày 16/02/1953  Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh số 141/SL đổi Nha CA thành Thứ Bộ Công an trực thuộc Chính phủ do đ/c Giám đốc Nha Công an Trần Quốc Hoàn làm Thứ trưởng. Ngày 27-29/8/1953 Hội đồng Chính phủ ra Nghị quyết đổi Thứ Bộ Công an thành Bộ Công an[7] mà trong mô hình có bộ phận điều tra được gọi là Vụ Chấp pháp. Những năm 1951-1954 mô hình tổ chức CA đã có đến cấp xã, do đó công tác điều tra cũng được nề nếp hơn, các Ty đều có Tổ điều tra thuộc Ban trị an hành chính. Khi đó, bộ phận KTHS gọi là Phòng Căn cước (Phòng 5) và nằm trong Vụ Trị an hành chính. Các địa phương là bộ phận trực thuộc Ban Trị an hành chính.

Cũng từ đây lực lượng Công an cùng quân dân cả nước bước vào trận Tổng phản công cuối cùng, kết thúc cuộc kháng chiến 9 năm. Trong giai đoạn này, tiền thân của KTHS là bộ phận căn cước đã có những bước tiến và đóng góp đáng kể, đặt những viên gạch đầu tiên cho hệ thống các văn bản pháp quy về KTHS sau này. Đây là thời kỳ mà lực lượng KTHS toàn quốc đã cố gắng vừa XDLL, vừa học, vừa làm đóng góp nhất địch vào thành tích chung. Cụ thể đã góp phần khám phá thành công vụ tham ô ở Cao Bằng, Hà Giang, Công ty Hải Lạng…; phối hợp với lực lượng điều tra quân đội phá vụ án tham ô của Cục trưởng Quân nhu Trần Dụ Châu. Những chiến công xuất sắc đó đã đánh dấu sự trưởng thành của lực lượng CAND Việt Nam trong đấu tranh chống bọn phản động, các cơ quan tình báo, gián điệp Pháp và can thiệp Mỹ được huấn luyện cẩn thận và trang bị đầy đủ, chống bọn tha hoá, lưu manh. hay những vụ buộc người trong lực lượng làm sai, sa đoạ, biến chất đến vi phạm pháp luật như Giám đốc CA Khu III Nguyễn Đình Điền, Trưởng Ty CA Hà Nam Đặng Trần Dương…phải trả giá.

Sau khi miền Bắc giải phóng, ngày 22/11/1954 Phòng Căn cước từ Chiến khu chuyển về 87 Trần Hưng Đạo và hệ thống tàng thư căn cước đã được xây dựng thống nhất từ Trung ương xuống địa phương.

Để đẩy mạnh công tác KHHS đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn Cách mạng mới, ngày 21, 22, 23/8/1957 Bộ Công an tổ chức Hội nghị Kĩ thuật hình sự lần thứ Nhất tại Hà Nội và ra Nghị quyết XH-50 dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn. Những khái niệm cơ bản nhất, những nhiệm vụ trọng tâm về KHHS, về KTHS đã được chính thức đề cập, xác định “Công tác kĩ thuật khoa học hình sự chính là một trong những biện pháp nghiệp vụ kĩ thuật rất quan trọng của ngành Công an”. Đồng thời xác định: “KTHS gồm 7 mặt công tác lớn là: Lập căn cước can phạm; Tham gia lập và cấp Giấy chứng minh cho nhân dân; Xây dựng tàng thư Danh, Chỉ bản; Tích lũy án tích; Truy nã, đình nã; Công tác KNHT; Huấn luyện và đào tạo cán bộ”. Đây là văn bản chính thức đầu tiên của CAND về xây dựng lực lượng, xác định phương hướng, tư tưởng chỉ đạo cho công tác KHHS.

Hiện nay một số luận điểm tại Nghị quyết không còn phù hợp nhưng khi đó Nghị quyết thực sự trở thành cẩm nang để các địa phương, đơn vị xác định phương hướng xây dựng ngành, tiến hành biện pháp công tác KTHS, là tiền đề cho sự phát triển của KHHS trong các giai đoạn sau.

Chính vì ý nghĩa quan trọng đó của Hội nghị này mà tháng 6/1998, Bộ trưởng BCA Lê Minh Hương đã nhất trí, sau đó ngày 02/4/2002, Bộ trưởng Lê Hồng Anh đã ký Quyết định chính thức lấy ngày 23 tháng 8 hằng năm làm Ngày Truyền thống của lực lượng KHHS Việt Nam.

Khi thực hiện Nghị định 250/CP ngày 12/6/1981 của Hội đồng Chính phủ về Nhiệm vụ, quyền hạn, Tổ chức bộ máy của lực lượng CAND thì Viện KHHS trực thuộc Tổng cục Cảnh sát nhân dân (Mật danh C21) có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo Quyết định số 87/QĐ/BNV ngày 20/12/1981 của Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Hùng, với trụ sở đóng rải rác khắp Hà Nội: Trần Bình Trọng, Quan Thánh, Khương Thượng...và trụ sở chính thức tại Gia Khánh, Tam Đảo, Vĩnh Phúc[8]. Ngày 10/7/1981, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) đã ra Quyết định thành lập phòng KTHS đầu tiên ở một số Công an tỉnh và thành phố trong cả nước. Từ đó, lực lượng  KTHS trở thành hệ nghiệp vụ của lực lượng Công an[9].

Thực hiện Nghị quyết đó, hơn 60 năm qua cùng với sự trưởng thành của toàn lực luợng CAND, KHHS ngày càng tỏ rõ vai trò to lớn trong đấu tranh phòng, chống tội phạm giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Trong đó, ngoài Bộ Trưởng đầu tiên là Trần Quốc Hoàn thì Bộ trưởng Bùi Thiện Ngộ (1929–2006, Bộ trưởng giai đoạn: 1991 – 1996) là những Bộ trưởng quan tâm thực chất và có công đầu xây dựng ngành KHHS.

- Lương Đức Mến, viết 23/8/2017, bổ sung, sửa chữa 23/8/2021-


             [1] Trên Bộ, gọi là “Viện” (không phải Cục như các đơn vị nghiệp vụ khác) và mang tên “Khoa học hình sự” còn ở dưới tỉnh là “phòng” và mang tên “Kỹ thuật hình sự” do vậy danh xưng không thống nhất, người gọi KTHS, người bảo KHHS, người nói KTHHHS, người thì kêu là KHKTHS!

[2] Chế độ quân chủ (H: 君主制; A: Monarchy; P: Monarchie) hoặc quân chủ chế hay còn gọi là Chế độ quân quyền, là một thể chế chính quyền mà trong đó người đứng đầu nhà nước là nhà vua hoặc nữ hoàng.. Chế độ  (H: 封建, tức phong tước, kiến địa; A: Feudalism; P: Féodalité, tức “lãnh địa cha truyền con nối”) phản ánh một giai đoạn, một thời kỳ hay là một hình thái của chế độ quân chủ. Như vậy, thực chất trong lịch sử Việt Nam không tồn tại chế độ phong kiến theo đúng nghĩa

[3] Ngày 25/8/1945 UBND Bắc bộ có quyết định thành lập Sở Liêm phóng và cử đ/c Chu Đình Xương ( Trưởng ban Tài chính Xứ uỷ ) làm Giám đốc, đ/c Lê Giản làm phó (từ cuối 9/1945). Sở Liêm phóng có 5 bộ phận:  Văn phòng, Phòng Chính trị (gồm Ban Trinh sát Chính trị, Ban Xét hỏi); Phòng Tư pháp-Hình sự  (có Ban Trinh sát Hình sự, Ban Xét hỏi); Phòng Quản trị Trại giam; Phòng Hành chính Ngoại vụ; Phòng Căn cước. Phụ trách các phòng là Đảng viên Cộng sản hoặc những cán bộ Cách mạng đã được thử thách qua lao tù đế quốc: Bùi Đức Minh, Phạm Văn Tạo, Nguyễn Văn Nội và Lê Hữu Qua.  Cùng với việc củng cố Sở Liêm phóng, ta đã chú ý củng cố và tăng cường lực lượng Cảnh sát. Đ/c Nguyễn Huy Khôi được cử làm Trưởng Ty. Các tỉnh giành được chính quyền thành lập Ty Liêm phóng, Ty Cảnh sát.

[4] Chính sách lưu dung là một chủ trương đúng và cần thiết. Kinh nghiệm này sau 30/4/1975 lại được áp dụng trên mọt tầm cao mới và thực tế chứng tỏ sự đúng đắn của chủ trương đó. Cho đến nay, ngoài những sinh viên tốt nghiệp các nhà trường, học viện trong ngành ra , LLCA vẫn thường xuyên được tăng cường, bổ xung cán bộ từ  nhiều nguồn. Trong đó đặc biệt là cán bộ KHKT. Những cán bộ này, sau khi được tập huấn, đào tạo về nghiệp vụ Công an đã thực sự có những đóng góp quan trọng cho công tác chiến đấu, đảm bảo chiến đấu và XDLL của CAND, đặc biệt KTHS. Từ đó đặt ra vấn đề đoàn kết  trong CA lại càng quan trọng, trở thành cái cốt tử đảm bảo cho thắng lợi.

[5] Ông làm việc trong hệ thông TTCC từ 1930. Sau 8/1945 ông được lưu dung làm Phó phòng Can cước. Khi thành lập Cục Trinh sát kĩ thuật ông được giao là Trưởng phòng KTHS.

[6]  Thuật ngữ “Công an” du nhập từ TQ sang bởi chữ  公安 có lẽ xuất hiện từ đây để xóa bớt hình ảnh mang nặng tính “đàn áp” của từ  “Police” (Cảnh sát 警察) thời Pháp thuộc.

[7] Bộ trưởng đầu tiên Trần Quốc Hoàn (1916-1986) là Bộ trưởng giữ cương vị này liên tục dài nhất: từ 1953 đến 1980. Đây là một trong những vị Bộ trưởng quan tâm thực chất và có công đầu xây dựng ngành KHHS.

[8] Đó là Trụ sở đầu tiên của Viện KHHS do CHDC Đức giúp xây dựng và trang bị nhưng hầu như chả mấy phòng nghiệp vụ ở và làm việc!. Sau này là ở 99 Nguyễn Tuân, quận Thanh Xuâ và từ 19/8/2021 là ở xã Xuân Phương, Nam Từ Liêm!

[9] Đó cũng là dịp mà 20 người chúng tôi Tốt nghiệp ĐHQY. Trong khi Bộ chưa phân công công tác thì Tiến sĩ Nguyễn Văn Hùng xin chúng tôi về Pháp y. Khi chúng tôi được đưa về Viện thì P11 (Phòng Pháp y-Sinh vật)  ít Đảng viên nên số Đảng viên mới từ Đại học Quân y về trở thành đông đảo. Ngoài số nam giới làm Pháp y, Phòng còn có các chị Hồng, Vân làm sinh vật. Khi chụp ảnh làm GIẤY RA VÀO thấy biển đề “Phòng CCCP” cứ nghĩ là phòng Liên Xô  (Союз Советских Социалистических Республик ) ai dè đó là “Căn cước can phạm”!

 Chúng tôi được bố trí ở Nhà khách Bộ (17 Nguyễn Thượng Hiền) và học những bài đầu tiên về KHHS, về Pháp y. Đây là Lớp Chuyên khoa BS Pháp y đầu tiên trong nước của ngành. Khai giảng 20/4. Ngoài 20 BSQY ra còn có anh Tư Đông của CA Tiền Giang, và 2 Bs của Hà Nội. Học ngay trong Hội trường của Nhà khách và trong phòng ảnh, phòng làm việc của các phòng nghiệp vụ của Viện khi đó ở khắp Hà Nội. Ngoài học lí thuyết có thực tập ở Bạch Mai, Việt Đức. Tới 31/8 bế giảng. Giấy chứng nhận của tôi số 00019/PY do Đại tá Lê Quân kí ngày 30/8/1981. Có nhiều kỉ niệm hay khi học chụp ảnh và mổ tử thi.

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...