Chào mừng bạn đã ghé thăm,
Chúc bạn Vui, Khỏe, quanh năm Phát tài.
Nỗi niềm muốn nối vòng dài,
Kết giao muôn nẻo, tương lai nối gần.
-*-
Địa chỉ: SN 328 đường Hoàng Liên, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
ĐT DĐ: 0913 089 230 - Email: luongducmen@gmail.com.

Thứ Bảy, 19 tháng 8, 2017

Cảm nghĩ NGÀY TRUYỀN THỐNG LLKTHS

Ngày 23/02/2013 tôi 58 tuổi, đến hạn tuổi cao nhất phục vụ trong CAND nên từ giữa năm 2012 tôi đã phân nhiệm việc điều hành đơn vị cho cấp phó trực tuần, không ký các KLGĐ nữa, trừ những trường hợp thật cần thiết. Và đến hôm nay đã nhận Quyết định, lĩnh lương hưu sang năm thứ 4
Hôm nay, trong buổi gặp mặt này, được Ban tổ chức giới thiệu, xin phép các đ/c lãnh đạo và các đồng chí có 3 nhóm ý kiến.
Thứ nhất: Xin khẳng định rằng trên thế giới việc Hình thành, phát triển KHHS trở thành một ngành khoa học độc lập trên thế giới là một tất yếu, khách quan từ rất lâu. Điều đó có Cơ sở khoa học đầy thuyết phục, từ những người đặt viên gạch đầu tiên như Imhotep (2650-2600 tCn), Hippocrates (460 tCn- 370 tCn), Julius Caesar (100-43 tCn)...Sau đó nó phát triển trong thời cận đại và đến thời hiện đại nó chính thức trở thành ngành khoa học độc lập khởi đầu từ “nhân trắc học” (anthropometry) gắn với công lao của Alphonse Bertillon (1853-1914). Sang thế kỷ XXI và hiện nay tất cả những thành tựu mới nhất của KHXH&NV, KHTN&CN đều được KHHS nghiên cứu, ứng dụng để phục vụ cho cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và nó phát triển không ngừng.
Việt Nam, phải tới những năm 1955-1960 thì vai trò của KTHS mới được chính thức ghi nhận. Nhưng biện pháp này đã được chúng ta triển khai ngay từ khi Cách mạng mới thành công với Ban Căn cước gồm những CBCS chiếm lĩnh phòng hồ sơ, bộ phận căn cước của Sở Liêm phóng và một số người lưu dung. Từ đó, lực lượng này đã trưởng thành cùng với quá trình vận động của công cuộc kháng chiến kiến quốc, đấu tranh thống nhất đất nước, bảo vệ tổ quốc và xây dựng CNXH.
Lào Cai (cũ), cũng như các địa phương khác, ban đầu bộ phận KTHS trực thuộc Ban Trị an hành chính. Khi trên Bộ thành lập Cục Kĩ thuật nghiệp vụ thì từ 1962, bộ phận KTHS tách về Phòng Kĩ thuật nghiệp vụ theo Thông tư số 88/TCCB. Trong những ngày khởi lập đó, lực lượng KTHS chủ yếu thực hiện việc KNHT và lập CCCP đã có những đóng góp vào công tác chung của Ty CA Lào Cai: tham gia KNHT sớm tìm ra thủ phạm sát hại lẫn nhau giữa 2 con bạc xẩy ra vào một đêm tháng 2/1947 ở Phố Tèo, Tx Lào Cai, kịp thời chặn đứng được ý đồ kẻ địch lợi dụng vu khống để  kiếm cớ lật đổ chính quyền dân chủ non trẻ.
Tỉnh Hoàng Liên Sơn được thành lập, Bộ Nội vụ có Quyết định số 339/NV-QĐ ngày 28/01/1976 thành lập Ty CA  Hoàng Liên Sơn với 20 phòng, ban. Khi đó, bộ phận KTHS thuộc Phòng Trinh sát kĩ thuật bao gồm những cán bộ làm công tác này của Ty Công an Lào Cai (anh Hồ Sĩ Tam...), Nghĩa Lộ (anh Nguyễn Huy Triều...), Yên Bái (Uẩn,...) gọi tắt là Đội 5 đã sớm đảm nhiệm chức năng ngay từ những ngày đầu. Khi triển khai Nghị định 250/CP  ngày 12/6/1981 của Hội đồng Chính phủ, tại Công an HLS, ngày 10/7/1981 Thứ trưởng Trần Đông kí Quyết định thành lập Phòng Điều tra xét hỏi-Kĩ thuật hình sự, lực lượng KTHS (Đội 5) chuyển về phòng này được biên chế trong lực lượng Cảnh sát và công tác KTHS đã được thống nhất từ TW tới địa phương. Đến tháng 5/1985 Phòng KTHS Công an Hoàng Liên Sơn được thành lập và sau đó cá nhân tôi được đề bạt trưởng phòng này thay anh Hoàng Sáng bởi QĐ số 04 CAQĐ do GĐ Hoàng Tuyển kí ngày 25/4/1990. Trước đó tôi đã được UBND tỉnh Hoàng Liên Sơn bổ nhiệm PTP Điều tra xét hỏi ở tuổi 29.
Sau khi có Nghị quyết ngày 12/8/1991 của Quốc hội, ngày 04/9/1991 Bộ trưởng Bộ Nội vụ có Chỉ thị số 04 CT/BNV(V11) về các mặt công tác công an thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về điều chỉnh địa giới một số tỉnh thành. Sau đó Bộ có Quyết định số 150/QĐ-BNV ngày 16/9/1991 về bộ máy Công an tỉnh Lào Cai, Yên Bái. Theo đó, bộ máy của CA tỉnh Lào Cai có 20 phòng nằm trong 2 BCHANND, BCHCSND và các phòng trực thuộc.
Trong 20 phòng ban ngày đó có phòng KTHS  PC21 thuộc BCHCS với Trưởng phòng là Đại úy Lương Đức Mến (QĐ số 38 do kí ngày 21/9/1991) và có 6 CBCS (QĐ số 36 kí ngày 10/9/1991). Từ đó đến nay đã 26 năm nhiều phòng được tách nhập, thay nhiều đời TP, duy nhất KTHS vẫn là một phòng độc lập, tuy có thay phiên hiệu từ PC21 sang PC54 và mới có TP đời thứ 2! 
Từ đó đến nay có chuyển đến, tuyển dụng mới, chuyển đi, chuyển vùng và xuất ngũ, đơn vị được trang bị tương đối đầy đủ các phương tiện chuyên dùng cần thiết , triển khai đủ các bộ môn nghiệp vụ theo phân cấp. KLGĐ của đơn vị thực sự có uy tín đối với các Cơ quan THTT. Liên tục đạt ĐVTT, nhiều năm được UBND tỉnh và Bộ Tư pháp tặng Bằng khen.
Thứ hai, về cá nhân, Tính đến khi nghỉ hưu, 40 năm trong LLVT (1973-2013, có 8 năm đi học tại trường CA và QĐ), 32 năm (1981-2013) đứng trong đội ngũ KTHS với nghề lao động đặc biệt, nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm là Pháp y (loại V, loại VI theo Danh mục quy định tại Quyết định số 44/LĐTBXH-QĐ ngày 29 tháng 01 năm 1997 của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội), 29 năm (từ 1984) trên cương vị lãnh đạo trong đó có 23 năm (từ 1990) là Trưởng phòng; nhiều khóa tham gia BCH Đảng bộ, UBKT Đảng ủy, liên tục là Bí thư Chi bộ từ 1985; 8 năm là Ủy viên Thường trực HĐPY tỉnh (1982-1990), tham gia BCH Hội Pháp y Việt Nam Khóa I...Nhìn lại thấy cũng đã làm được một số việc tuy nhỏ bé nhưng là những viên gạch, hạt cát đóng góp cho sự nghiệp xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng KTHS-PY nói riêng và Công an tỉnh Hoàng Liên Sơn cũng như Lào Cai nói chung sau này. Tôi vui vì sự đóng góp của mình đã được đơn vị, CA tỉnh, tỉnh, Bộ Công an và Nhà nước công nhận; đồng đội, đồng nghiệp biết đến. Đó là từng được tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương, Kỷ niệm chương, Bằng khen, Giấy khen của các ngành, các cấp; nhiều năm là Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh, CSTĐ toàn lực lượng và CSTĐ cơ sở; chưa bị kỷ luật thành văn. Lãnh đạo đơn vị liên tục đạt Tiên tiến, nhiều năm đạt Quyết thắng. Rồi những danh xưng không chính thức, như “Mến còi”, “Trưởng bản”, “Chuyên gia phát biểu, sửa văn bản”, “Trưởng phòng đòi hỏi chính sách”...là “thương hiệu” mà đồng đội ban tặng.
Với tính thẳng, dám nghĩ, dám làm, dám nói; được đào tạo cơ bản lại là con trưởng, trưởng chi, trưởng ngành rồi làm Trưởng phòng đến ngót 30 năm nên cũng có những vị lãnh đạo, đồng cấp và thuộc cấp không mấy ưa, có người còn cho là “ngang”, “nói liều”, “suồng sã”, “cãi lãnh đạo”. Nhưng nhìn lại tôi không có ân hận, hối tiếc gì.
Nhân đây tôi muốn ôn lại rằng: tôi là một trong số 20 người mà cách đây 43 năm đang học tại Trường CSND ở Suối Hai, có người vào năm 1973 (K17), người vào năm 1974 (K18) thì tháng 5/1974, Bộ cho ôn thi Đại học. Lúc đầu có 300, sau chọn được 120, rồi còn 60. Vừa học nghiệp vụ, vừa ôn cả ở 3 khối: A, B, C.
Trong khi chờ kết quả thi Đại học, tháng 8/1974 chúng tôi được chọn đi lao động xây dựng Lăng Bác (Công trường 75808).
Ngày 18/9/1974 20 học viên (K17, 18 TCSND và D5, D6 ĐHAN) trên 19 điểm tập trung tại C500 (Học viện An ninh ngày nay). Tại đây chúng tôi được nghe ông Quách Quí Hợi (Vụ phó Vụ Tổ chức cán bộ Bộ Công an) phổ biến giao nhiệm vụ.
Theo đó, ngành CA có kế hoạch xây một BV “kiểu mẫu” trên Tam Đảo . Bọn tôi thuộc diện đào tạo cho kế hoạch này: mỗi năm 20 người,  5 khoá đủ 100 nên theo QĐ của Bộ,  những người đỗ vào Đại học đều vào học tại Đại học Quân y (dù thi khối A, C hay B). Ông còn yêu cầu chúng tôi cố gắng học tập trở thành Bác sĩ giỏi còn phải phấn đấu trở thành Đảng viên (ngày đó các trường đại học chưa chú trọng vấn đề này), trở thành một sĩ quan có bản lĩnh.
Nghe thế, những thanh niên mới lớn như chúng tôi rất phấn khởi, tin vào tiền đồ của mình và ai cũng nung nấu một quyết tâm, nuôi dưỡng một hoài bão.
Nhưng khi 20 chúng tôi tốt ngiệp, nhận bằng (03/1981) thì là lúc “anh bạn lớn” trở mặt mạnh, thủ đô không thể vượt phía Bắc sông Hồng được, nên KH xây BV lớn của CA dừng lại. Bọn tôi đâm ra “ế” ! Chưa có lực lượng nào bên CA nhận, nhưng cũng chưa ái có ý kiến cho chúng tôi “tự liên hệ công tác” như những năm sau 1990s.
Tiến sĩ Nguyễn Văn Hùng khi đó đang muốn khuyếch trương ngành Pháp y CAND, được Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn ủng hộ việc đưa các Bác sĩ trẻ này về đấy. Thế là từ 01/4/1981 tất cả 20 chúng tôi có quyết định về Viện Khoa học hình sự (khi đó có mật danh D44 còn chưa thuộc LLCSND và đóng quân khắp các Đền, Chùa Hà Nội tuy có trụ sở chính do CHDC Đức viện trợ xây ở Gia Khánh, Tam Đảo, Vĩnh Phúc). Trước mắt chúng tôi ở Nhà khách Bộ (17 Nguyễn Thượng Hiền). Chính tại đây, tháng 8/1981 tôi được thầy Hùng dẫn đến gặp đ/c Phạm Kham giám đốc CA HLS đang về Bộ họp để giới thiệu về HLS (hợp lý hóa gia đình) để tháng 11 tôi về nhận công tác tại đây và được điều về PC16-21.
Thế là trong suốt 6 năm học chúng tôi chưa từng được nghe giảng, xem thực tế, thực hành một tiết nào về Pháp y lại được gom tất cả vào chuyên ngành chẳng ai ngờ và ít người biết đến này. Đúng là:
Tuổi thơ trải lắm chông gai,
Thi Vô tuyến Điện lại ngồi Quân y .
Những gì mài đũng nhẵn lỳ,
Ra trường chẳng dụng - khó bề sở xoay.
Đến nay, trong số 20 SVCA học ĐHQY đến nay có 4 chuyển ngành, 1 mất nhưng lại bổ sung 5 từ Quân đội chuyển sang nên tổng số Bác sĩ trong CAND từ lò luyện ĐHQY đến nay vẫn là 20! Một sự trùng hợp lý thú!
Thứ ba, Đối với các CBCS trẻ, tôi xin có đôi lời tâm sự:
1.  Là người cùng với 9/20 BsK69ĐHQY gắn bó hơn 30 năm với công tác (dù trực tiếp hay gián tiếp) mà trong những năm tháng “mài đũng quần trên giảng đường” chưa được học, nếm trải đủ những nhọc nhằn, căng thẳng và sự thiệt thòi của nghề cũng như những quan niệm bất cập, mâu thuẫn nhau của những người có quyền nay ngồi soạn bài phát biểu theo yêu cầu của đ/c kế nhiệm tôi “thấu cảm” rằng:
- Rõ ràng ngành và nghề chọn chúng tôi chứ tôi cùng 20 bạn học trường CA năm 1974 đâu có chọn Y, lại càng không chọn Pháp y và KTHS!
-  Trong ngành Y có một bộ phận, trong CA có một lực lượng ít được xã hội biết đến, muốn con em vào. Đó là Pháp y và KTHS, một chuyên khoa đòi hỏi nhiều chất xám, trách nhiệm pháp lý lớn nhưng người dân, cơ quan quản lý, cơ quan tiến hành tố tụng còn chưa hiểu hết đóng góp của nó với cuộc sống do vậy chưa có sự đánh giá, đầu tư, quan tâm, vinh danh, đãi ngộ đúng mức. Nhiều bạn chuyển ngành, sang sân khác là hợp lẽ!
- Nếu cứ tình trạng này thì sớm muộn nghề này sẽ “teo” dần trong khi nhu cầu ngày càng cao! Do vậy, hồi đương chức, có lần tôi đã ao ước:
Đã điều tra phải cần bổ trợ, có luật sư và có pháp y;
nên dẫu yếu vẫn cần khai triển, đành vừa làm lại vừa củng cố.
Trách ai khiến tình hình phức tạp, án mỗi ngày tăng;
trách người xui chậm chạp triển khai, tiền bay theo gió.
Phải biết thương cho người giám định, động viên kịp thời mới gọi là khôn;
chớ nghe theo cái đám thầy dùi, mải lo thành tích án sẽ mau xếp xó.
Thà tốn mà được kết luận hay, đảm bảo nghiêm minh mới rõ là vinh;
hơn còn mà gặp nhận định sai, chắc chắn oan sai thì càng thêm khổ.
2. Nếu cần một lời khuyên, tôi xin lưu ý rằng: nghề KTHS, PY rất khó HTNV chứ chưa nói HTXS nếu chúng ta không có tâm huyết, không chịu khó học hỏi, tự học, tự nâng cao kiến thức; nghề của ta tuy khó nhưng cũng rất dễ làm giàu, nếu chúng ta thiếu sự tỉnh táo, thiếu lương tâm trách nhiệm mà chỉ biết cố làm giàu bằng mọi giá! Nghề này không “tiết lộ thiên cơ” như thầy bói, chẳng “Cưỡng lại mệnh trời” như thầy cúng mà chỉ bổ trợ để ra và chứng minh sự thật như nó vốn có bằng chứng cứ vật chất. Bởi vậy nó bền vững và thường được hưởng hồng phúc lúc cam go. Kinh nghiệm đời tôi, tôi biết “giúp người đâu để mong người trả ơn” nhưng cuộc đời sẽ ban ân huệ cho chúng ta.
Các bạn hãy cùng tôi tâm niệm rằng: ĐỜI CÓ THỂ QUÊN TA NHƯNG CHÚNG TA KHÔNG THỂ QUÊN TA VÀ CÀNG KHÔNG ĐƯỢC QUÊN NHAU.
Xin đọc lại bài thơ tôi viết lúc nghỉ hưu, từ 2013:
TÌNH NGƯỜI KỸ THUẬT
Miền quê nước lợ sinh tôi,
Nhưng tôi lớn giữa đất trời biên cương .
Nhớ buổi Thu sớm mờ sương,
Vạch rừng đốt đuốc soi đường đi thi.
Bẩy năm học mới thành nghề ,
Chẳng là Nội, Ngoại, Sản, Nhi khoa nào.
Đất này, nghiệp ấy gửi trao:
Pháp y công việc biết bao ngỡ ngàng.
*
Yêu vùng quê mới khai hoang,
Rời Viện, trở lại tỉnh Hoàng Liên Sơn .
Bén duyên lấy vợ sinh con,
10 năm 4 bận chuyển dồn chung cư .
Chuyên Tâm, luyện Trí, thuận đò,
Tới năm Canh Ngọ  được giao Trưởng phòng.
Bao lần nắng Hạ, gió Đông,
17 huyện thị  bước cùng anh em.
Đến khi tách tỉnh về biên,
Vẫn yên nghiệp cũ nhiều phen ngập ngừng .
*
Bãi sông, đường lớn, mái rừng,
Phố đông, bản vắng đều từng đã qua.
Kia vụ trộm, nọ cháy nhà,
Đây vụ án mạng hay là  không may?
Phải đâu tất cả phơi bày,
Có đi nhập cuộc mới hay khôn cùng.
Này Quai, này Xoáy, này Cung,
Đâu đường tách nhánh, đâu vùng hợp biên.
Chữ này nét móc, nét xiên,
Chữ kia quai thắt, nét liền run run.
Ấn chỉ này chẳng cùng khuôn,
Chắc rằng giấy giả thêm buồn người mang.
Sắc đồ hợp vạch rõ ràng,
Là ma túy đó cùng “nàng tiên nâu”.
Đây người ai oán cơ cầu,
Mức di chứng ấy xếp đâu cho vừa?
Buồn vui trong việc kiểm tra,
Giám sát rành rọt thực là nghiêm minh .
*
Ra đi khi tóc còn xanh,
Nay đầu bạc mái, nghiệp ngành chia tay.
Ngoảnh nhìn thoáng chút men say,
Tình này gửi lại những ngày xa xưa.
Ba Hai năm  sống trong nghề,
Lời khen đã lắm, tiếng chê cũng nhiều.
Mặc ai nắng sớm mưa chiều,
Riêng ta ta vẫn ghét - yêu rõ ràng.
Mặc ai lựa việc cao sang,
Riêng ta, “Kỹ thuật” thủy chung trọn đời.
Nay việc ấy đã xa rồi,
Phòng kia, dấu ấy gửi người lớp sau.
Ra về xin nhắn một câu:
Tình yêu Kỹ thuật trước sau ngọn ngành.
*
Bốn mươi năm  nặng nghĩa tình,
Về hưu vẫn nhớ đinh ninh lời thề.
Nhớ lời dạy của Bác Hồ,
Nhớ tình đồng đội, nhớ nghề đã theo.
Tình riêng chẳng biết nói nhiều,
Gửi người ở lại đôi điều trao nhau.
Nghĩa tình trọn ven trước sau,
Niềm vui san sẻ, nỗi đau chia cùng.
Anh em quyết một chữ “đồng”,
Sao cho mẫu mực cùng chung chuyên cần.
Cuối cùng, xin kính chúc lãnh đạo CA tỉnh, các phòng, ban, cùng toàn thể CBCS, nhất là các đ/c KTHS lời chúc sức khỏe, phát huy những thành tựu đã đạt được, phấn đấu không ngừng để trong những năm tới chúng ta không chỉ có được những danh hiệu cao quí mà còn có hệ thống cơ sở vật chất đàng hoàng, to đẹp hơn; có được lòng tin của nhân dân các dân tộc trong tỉnh vững hơn nhiều lần... để thanh “Bảo kiếm” giữ ANTT nơi “phên dậu quốc gia” luôn sắc bén, dẻo dai và cứng cáp.

- Lương Đức Mến, ngày 19/8/2017-

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2017

NGƯỜI ÔNG (Nội, Ngoại) THỜI NAY:


Ông xưa bạc tóc, rụng răng,
Ông nay tóc nhuộm, răng càng chắc hơn.
Ông xưa quần xộc, chân run,
Ông nay thẳng nếp, gối còn dẻo dai.
Ông xưa mắt kém, nặng tai,
Ông nay vào lốc, mở phai ào ào.
Ông xưa xin rể từng hào,
Ông nay trong két giấu bao nhiêu tiền.
Ông xưa ngại nhất chữ “phiền”,
Ông nay tung tẩy mọi miền gần xa.
Ông xưa chung thủy một bà,
Ông nay vui vẻ đào hoa trong ngoài.
Ông xưa dọn dẹp miệt mài,
Ông nay còn bận chơi bài, lướt phây.
Ông xưa còn lắm điều hay,
Ông nay cũng vậy, đổi thay hợp thời.

Bồng bềnh ru cháu à ơi,
Cháu ngoan ngủ nhé, ông thời lướt phây.

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Ba, 17 tháng 1, 2017

Màn GIỚI THIỆU ĐỘC ĐÁO

Khu phố tôi là dân tứ xứ đến lập nghiệp nhưng sống rất vui vẻ hòa đồng. Nhân dịp cuối năm khu phố tổ chức thi tuyển NGƯỜI ĐẸP PHỐ MƠ. Kết quả có 7 người đẹp lọt vào vòng thi tài năng và họ quê gốc từ 7 tỉnh khác nhau.
Vị trưởng Ban Giám khảo ra đề: các cô hãy tự giới thiệu về mình bằng một câu hát hay câu thơ, bà con và BGK sẽ chọn ra 4 người giành giải (Nhất, Nhì, Ba, Khuyến khích) với những ai có lời giới thiệu độc đáo.
1. Mở đầu, thấy cô gái đến từ Bắc Ninh ai cũng nghĩ cô sẽ hát Quan họ, nào ngờ trổ tài làm thơ bằng giọng ngâm rất đậm đà:
“Em là cô gái Bắc Ninh,
Em nghiêng vành nón cái đình nghiêng theo”
Khán giả trầm trồ khen ngợi. “Tuyệt, hay tuyệt...”, còn Trưởng Ban Giám khảo (TBGK) gật gù : cổ nhân có câu “đẹp nghiêng nước nghiêng thành” nay xóm ta “nghiêng Đình”, được!
2. Người đẹp chính quê vững tin bước ra sân khấu, giọng nữ cao vút lên:
“Em quê ở chính nơi đây,
Em nghiêng vành nón, cả bầy nghiêng theo”
Khán giả xôn xao, TBGK: “Đẹp nhưng thiếu khiêm tốn lại có ý thô tục, loại!”
3. Đến lượt người đẹp gốc Hải Dương thấy bạn mình đọc thơ được khen ngợi, cô cũng không hát Chèo mà đọc thơ:
“Em là con gái Hải Dương,
Em nghiêng một cái phố phường nghiêng theo”
Khán giả càng vỗ tay to hơn: “Đẹp đến thế cơ mà! ...”, TBGK gật gù “Đẹp, lại hợp với nơi sống hiện tại”!
4. Tiếp theo người đẹp gốc Hà Tây, theo gương các bạn cũng nẩy thơ:
“Em là con gái Hà Tây,
Em nghiêng người tí cốc đầy sữa tươi”
Khán giả vỗ tay rào rào, vị TBGK tấm tắc: “xinh, lao động giỏi”.
5. Mọi người chờ cô gái người Thanh Hóa với điệu hò quen thuộc, nhưng không cô vẫn đọc thơ:
“Em là con gái xứ Thanh,
Em nghiêng một cái củ hành mất tiêu!”
Khán giả la “hại sản xuất quá, không được!” còn TBGK mừng ra mặt bởi đã tìm được người loại nữa!
6.Người đẹp quê Đất Cảng tự tin bước ra, chào khán giả và:
“Em đây con gái Hải Phòng,
Em nghiêng vành nón là chồng nghiêng theo”
Đám thanh niên vỗ tay rào rào, nhưng TBGK nói: “Đẹp, chung thủy nhưng vi phạm Nội quy vì đã có...chồng” và người loại thứ 3 đã được xác định!
7. Cuối cùng khi người đẹp Quảng Ninh bước ra khán giả bàn tán “lại cái đình...” và hồi hộp nghe cô đọc:
“Em là cô gái Vân Đồn,
Em giơ chân bước cái......
Thấy cô dùng vần “ỒN”, khán giả tròn mắt, bà mẹ cô gái ngồi dưới nhỏm dậy “con này...”, BGK há hốc mồm và có ông kịp chặn “không được đọc tiếp” nhưng cô gái lớn tiếng: “như vậy không công bằng, phải cho em đọc hết”! Giám khảo đành nhẹ giọng: “thì, thì cô đọc tiếp đi”.
Được lời cô gái bẽn lẽn: “Em chân bước cái TÂM HỒN nó dõi theo”
Khán giả vỗ tay nổ cả nhà Sinh hoạt cộng đồng và cô Vân Đồn (Quảng Ninh) đạt giải nhất!
(Chuyện nghe lỏm ở mâm nhậu, chép lại quên nguồn.

Tranh minh họa chôm trên In)

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Sáu, 22 tháng 7, 2016

ĐÀN ÔNG THẬM ĐẠI CHỦ QUAN

Tập tành học Cụ Bút Tre,
Chép chuyện thiên hạ, răn dè người trong.

Trời ban cho cánh đàn ông,
Đến khi khôn nhớn mọc lông quanh mồm.

Nghe đồn hứng dậy lòng tham:
Vượt rừng bới quặng, đào tìm vận son.
Ngày về vít số bon bon,
Túi quần chèn chặt hai hòn đá quy. (quý)
Khi xuôi qua đoạn sông Đà,
Gặp nạn Bắc Cạn trên phà sông Gianh.
Tay chân thì vẫn nguyên lành,
"Cần tăng dân số" dập dành bị han.

Tới nhà, sau chuyện hân hoan,
Đang cơn buồn ngủ vợ bàn luật chơi:
“Cầm dao phải nắm đằng chuôi,
Giữ anh phải giữ cái B...ụng của anh!
Bao đêm em ngủ một mình,
Anh về em quyết tanh bành một phen!
Ruộng nhà hoang bỏ liên miên,
Sao anh chẳng khoán người bên giúp cày?”

Nghe xong, mắt thấy cay cay:
Đã vơi vãi đạn, chuyện này tính sao?

Mấy ngày tu hãm trong rừng,
Về xuôi lại gặp tương, gừng, tái Dê.
Bao nhiêu tích tụ định về

Vui cùng với vợ trút ra nên nghèo!

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Bảy, 19 tháng 3, 2016

Người TRUNG QUỐC KHÔNG NHỚ LỊCH SỬ ?

(Bản đồ lấy trên In)
Lâu nay, nhiều người khi đổ lỗi cho giáo dục Việt Nam cứ bảo dân ta hiểu lịch sử Trung Quốc hơn lịch sử nước nhà!
Điều đó có phần đúng nhưng đó là lịch sử qua phim dã sử mà phần lớn theo sự nhào lặn của người viết tiểu thuyết kiếm hiệp nổi tiếng là Kim Dung 金庸. Đó không phải lịch sử, dù là sử Việt, sử Tầu hay sử  khu vực. Xin đơn cử vài việc mà tôi “mục kích sở thị” và chiêm nghiệm :
1. Cố tình quên những triều đại đã xâm lược Đại Việt và bị đánh bại:
Khi trao đổi, nếu có nói đến những trang đen trong lịch sử bang giao giữa Hán và Việt, người Trung Quốc thường chỉ nhắc đến những cuộc tấn công của quan quân nhà Nguyên (元朝, 1271–1368), nhà Thanh (清朝, 1644 – 1912) từng bị quân dân Đại Việt (大越, 1054-1400 và 1428-1804) đánh cho tơi tả buộc phải rút quân về nước trong các năm: 1258, 1285, 1288 và 1789. Chủ ý của họ là đó là các triều đại không phải do người Hán cai trị và ta chỉ có thế chống lại những triều đại đó.
Nhưng họ quên rằng lãnh tụ của cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn 起義藍山 là Thái tổ Lê Lợi (黎利, 1385-1433) đã đại thắng, đuổi quân nhà Minh (明朝, 1368–1644) về nước sau 20 năm đô hộ nước ta (安南屬明時期, 1407–1427). Nhà Minh chính là triều đại của người Hán do Đại Minh Thái Tổ Cao Hoàng đế 大明太祖高皇帝 Chu Nguyên Chương (朱元璋, 1328-1398) lập ra.
Ngoài ra phải kể đến vài lần xưa kia quân dân ta đánh đuổi quân Nam Hán (南漢, 917-971) trong trận Bạch Đằng 白藤江之 năm 938, quân Tống (宋朝, 960–1279) ở trận Như Nguyệt năm 1077 cuối cuộc Chiến Tống - Việt (宋越熙宁战争, 1075-1077)…
Sử sách Trung Quốc có chép (dù thiên lệch nhiều) những chuyện đó. Nhưng sao người Tầu mau quên thế, hay họ cố tình quên. Còn người Việt, chúng ta phải nhớ!
2. Nhiều người không biết đến người anh hùng áo vải từng lật đổ một triều đại nhà Minh hùng mạnh:
Trong dịp tham dự lớp tập huấn chuyên môn tại tại Số 3 Tần Thành 秦城3 thuộc Quận Xương Bình 昌平区, thủ đo Bắc Kinh 北京市 từ ngày 26/5/ đến 11/6/2009 chúng tôi được đưa đi thăm Thập Tam Lăng 明十三陵. Đây là quần thể lăng mộ 13 vua đời Minh (1368-1644), cách Bắc Kinh 50 km về phía Tây Bắc.
Trên đường đi thấy cạnh  xa lộ có một pho tượng lớn hình người cưỡi ngựa rất uy nghi, hỏi hướng dẫn viên tượng ai, cô ấy lặng thinh. Đến gần, người lái xe bảo đó là tượng tướng quân Lý Tự Thành. Nhưng hỏi ông này là ai thì cả hướng dẫn viên, lái xe và phiên dịch đều im lặng.
Lục lại trí nhớ, tôi lược kể cho cả đoàn nghe rằng: Lý Tự Thành (李自成,1606-1645) nguyên danh là Hồng Cơ 鴻基, là lãnh tụ cuộc khởi nghĩa nông dân lật đổ nhà Minh (大明,1368–1644) vào năm 1644. Thành công ông lập nước Đại Thuận (大順, 1644–1645), tự xưng là Đại Thuận hoàng đế 大順皇帝, lên ngôi tại kinh thành nhà Minh. Nhưng, quân Mãn Châu 滿洲 tràn vào Trung Quốc lật đổ Lý Tự Thành, lập nên nhà Thanh (大清國, 1644 – 1912). (Tất nhiên khi đó chỉ kể đại khái còn chi tiết và mốc thời gian như đã viết là khi ở nhà có tìm đọc lại sách vở hẳn hoi).
Đối với triều Minh, Lý Tự Thành là giặc nhưng đối với nông dân ông ta  là anh hùng, cầm đầu nghĩa quân chống lại chế độ phong kiến.
Trong khi đó, khi đí gần đến Sân vận động quốc gia Bắc Kinh 北京国家体育còn gọi là "Sân Tổ chim" hoàn thành tháng 3 năm 2008 thì ai cũng hào hứng giới thiệu.
3. Thêm thắt để chứng minh dòng dõi Hán nhân với người nổi tiếng:
Hiện nay trên VTV2 đang chiếu bộ phim Càn Long truyền kỳ, khái quát những về chân dung vị vua anh minh, sáng suốt trong việc trị vì quốc gia của triều đinh  nhà Thanh
Trong đó cho thấy: khi phủ của Ung Thân Vương (Hoàng đế Ung Chính sau này) trở nên nhộn nhịp bởi sinh thêm một Cách cách thì bên nhà Trần Thế Quán (Trần Các lão) sát cạnh cũng sinh nhưng là bé trai! ở Hải Ninh cũng có thêm một đứa trẻ.
Ung Chính nghe tin, lệnh cho Trần mang con vào vương phủ của mình để xem mặt rồi thực hiện việc tráo đổi. Đứa con trai nhà họ Trần bị đánh tráo vào phủ Ung Chính sau này chính là Hoàng đế Càn Long.
Còn theo Thanh sử cảo 清史稿 chép tại quyển 10 本紀十 thì:  Càn Long hoàng đế (清高宗乾隆帝, trị vì 1735-1796) tên thật là Hoằng Lịch , là con trai thứ 4 của Thanh Thế Tông Ung Chính hoàng đế (清世宗雍正帝, trị vì 1722 – 1735), mẹ là Hiếu Thánh Hiến hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị (孝圣宪皇后鈕祜祿氏, 1693 – 1777), vốn là Quý phi 熹貴妃 của Ung Chính đế.
Câu chuyện hoán đổi con đã được Kim Dung hư cấu thành bộ tiểu thuyết Thư kiếm ân cừu lục. Tuy nhiên căn cứ vào chính sử nhà Thanh thì rõ ràng đây chỉ là truyền thuyết, thể hiện mong ước của người Hán khi bị người Mãn đô hộ, tự an ủi mình rằng vua trên ngai vàng vẫn là người Hán.
4. Không phân biệt được đường tuần biên với biên giới:
Trưa ngày 06/5/2002 xẩy ra vụ nổ súng khi phục bắt các đối tượng buôn bán chất ma tuý, vũ khí tại bãi cây Tống quán sủi, thôn Hảo Sư Tủng xã Pha Long, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai  giáp với địa phận Mộc Thành, huyện Hà Khẩu, châu Hồng Hà, tỉnh Vân Nam bên Trung Quốc. Hậu quả là phía CATQ tử vong 1,  bị thương 3; bên CAVN có 3 bị thương.
Ngày 07/05/2002, sau khi đã thống nhất giữa 2 ĐBP đối đẳng, đoàn cán bộ Việt Nam cùng đoàn cán bộ Trung Quốc đến nơi xẩy ra vụ việc xác định hiện trường, thu thập dấu vết, vật chứng. Có lắm chuyện đáng kể nhưng  nhớ nhất chuyện khẳng định hiện trường xẩy ra vụ việc là thuộc đất Việt Nam.
Ban đầu, CBCS của bên TQ phục kích hôm đó và cả những người tham gia đoàn công tác đều cho rằng nơi xẩy ra vụ việc trưa 06/5 nằm sát đường biên và thuộc đất Trung Quốc, chỉ có một số vỏ đạn là nằm bên này đường biên thuộc đất Viết. Sau một hồi căng nhau, qua đối chiếu bản đồ, hỏi dân chúng làm nương trên thực địa, đoàn ta mới buộc được đoàn TQ thống nhất:
- Toạ độ nơi xẩy ra vụ việc trưa 06/5 ghi theo cả 2 Bản đồ VN,  TQ là 24. 21 ô 8 và 26. 21 ô 8;
- Hiện trường  là khu bãi cây Tống quá sủi của gia đình ông Hảng Seo Chẩn (40 tuổi,  trú tại thôn Thàng Chư Pến,  xã Tả Ngải Chồ,  huyện Mường Khương,  tỉnh Lào Cai của Việt Nam). Bãi cây này nằm 2 bên đường tuần biên của Việt Nam từ mốc 18 đến mốc 19.
- Nơi này cách đường phân thuỷ (biên giới Việt-Trung) ở phía Bắc 100m. Như vậy nó nằm ở 2 bên đường tuần biên và phía dưới đường biên giới trong nội địa Việt Nam.
- Quanh bãi cây là nương ngô của đồng bào thôn Thàng Chư Pến,  xã Tả Ngải Chồ thuộc Việt Nam và của 1 hộ người dân Mộc Thành bên Trung Quốc 中国云南省红河哈尼族彝族自治州河口木城新寨 do xen canh vùng biên.
Thực chất, đoàn Trung Quốc biết rõ đường “tuần biên” do BĐBP Việt Nam tạo ra nằm phía dưới dốc so với đường “biên giới Việt Trung” ở đỉnh dốc, nơi “phân thủy” nhưng họ coi như phớt lờ, cứ cãi. Ta không cứng là họ lấn, thế thôi!!
5. Bài học không bao giờ cũ:
Viết đến đây càng thấm: biên giới trên bộ đã được phân định và phân giới cắm mốc kéo dài trên 10 năm, từ năm 1885 cho đến năm 1895 bằng Công ước ký giữa Pháp với Thanh. Sau này, ngày 30 tháng 12 năm 1999, tại thủ đô Hà nội, đại diện Chính phủ hai nước đã ký “Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc” (“Trung Việt Lục Địa Biên Giới Điều Ước” 中越陆地边界条约, đựơc quốc hội Trung Quốc thông qua ngày 29/4/2000 và Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 9/6 cùng năm) và đã  hoàn thành việc cắm mốc mà họ còn cố tình “nhập nhằng” thế huống chi ranh giới trên biển!!
Tất nhiên, trên biển, có Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ (ký ngày 25 tháng 12 năm 2000 giữa chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tại Bắc Kinh nhằm xác định biên giới lãnh hải, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế trong Vịnh Bắc Bộ thay thế Công ước Pháp-Thanh 1887) nhưng ký thì ký đấy, họ cứ lý giải và hành động theo ý họ!
Như thế, người Trung đâu không biết và quên lịch sử, địa lý. Tất cả lời nói, hành động bẻ cong đó họ đều có mục đích cả!
Do vậy, khi họa lại bài xướng LÃO LÁNG GIỀNG  của bạn Fb @ tôi đã viết:
BÊN LÁNG GIỀNG XẤU CHƠI

Xin kể chuyện quê xứ Lạc Hồng:
Thiên tạo sống cạnh giống kỳ nhông.
Rào chặt vẫn phen tan cây mận,
Chống luôn còn bận nát khóm hồng.
Bao phen đuổi giặc nơi rừng Bắc,
Mấy bận xua thù chốn biển Đông.
Nối đời tôi luyện lòng gang thép
Sắt son thề giữ vẹn núi sông!

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Ba, 23 tháng 2, 2016

Khi TRÒN HOA GIÁP

(Thay lời cảm ơn đại gia đình Fb đã gửi lời CMSN tới Còi tôi):
Ất Mùi, quê chửa hòa bình,
Chạy Tây đen đuổi, mẹ sinh rơi Còi.

Đói ăn, lạc hậu một thời,
Chắt chiu mẹ nhịn, nuôi người quắt queo.

Thời gian trôi, cũng lớn theo
Qua vòng Hoa giáp gieo neo-vinh hùng.
Nay trời ban tới chức “ông”,
Phúc, Tài, Lộc, Tiến cũng không nỗi nào.

Ngày sinh, Xuân thắm hoa Đào,
Lòng Nhân, tính Nghĩa gửi vào câu thơ.
Rèn Tâm, luyện Đức nhớ ghi,
Để Trí luôn sáng, đợi chờ tin vui.

Ất Mùi quay lại đây rồi,
Tròn tuổi Hoa giáp, vòng đời vượt lên.


23/02/2015

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Năm, 11 tháng 2, 2016

NHỚ NGƯỜI XƯA


Thương yêu bởi tại dáng người,
Say mái tóc mượt, tiếng cười trong veo.
Nhớ sao lối nhỏ lưng đèo,
Mỗi khi hè đến cùng trèo vượt qua.
Chuyện xưa...nay trở thành xa,
Người sang bến khác, tôi về với tôi.
Mỗi khi qua lại quê người,
Bâng khuâng chạnh nhớ cái thời đã lâu?
Người ơi đừng vượt sông Ngâu,
Vẹn nguyên như thế, kiếp sau “chúng mình”!!!

Lào Cai, Nhân Valentine's Day 14/02/2014

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Tư, 23 tháng 12, 2015

Tuần Giáng sinh 2015

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Sáu, 4 tháng 12, 2015

Con cháu BÚT TRE NHỚ LÀO CAI

Bạn đưa ngắm thành phố Lào
Cai xong thẳng tuột lôi vào Sa Pa.

Hôm sau ngược dốc Bắc Hà,
Xem hoa Tam giác, ngắm nhà A Tương. (tưởng)

Đang say đã giục lên giường,
Để xe thẳng hướng Mương Khương gập gềnh.
Đến nơi chưa kịp nằm kềnh
Đã lôi xềnh sệch lên đình (đỉnh) Pha Long.

Hôm sau tưởng đã là xong,
Vợ đòi sang dạo một vòng Hà Khâu. (khẩu)

Con gạ tìm đến Suối Thầu,
Suối đâu chẳng thấy, rặt bầu rượu ngô.

Giật mình nghe điện Phố Lu:
Xuống ngay dưới đó, bạn cu (cũ) đang chờ.

Khi xuôi ghé trạm Bảo Hà
Thăm Đền Ông Bẩy, điểm quà bạn cho:

Đây là thuốc bắc Sa Pa,
Đem về sắc uống để bà vui thêm.
Còn đây là của anh Chiêm
Chè pha mời bạn để đêm mất ngù. (ngủ)
Nhấc cầm túi gạo Xén Cù,
Nhớ thương bạn khóc tồ tồ không nguôi.
Lại đây là hộp chè Suồi (suối)
Giàng pha chắc uống cả buổi không buôn. (buồn)
Tiện tay sắp xếp, nói luôn:
Đây quà chị Bướm: thịt lợn sấy khô!

Khi yên vị tại quê nhà,
Nhớ Lào Cai quá, hẹn là lại lên!


Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Bảy, 14 tháng 11, 2015

Về BÀI THƠ “NAM QUỐC SƠN HÀ”

Thời gian gần đây trên các trang mạng rộ lên bàn tán xung quanh việc Sách giáo khoa in bài thơ “Nam quốc sơn hà” có vẻ “khác thường” (!?). Đọc kỹ các bài từ chê đến bênh, từ của bậc trí giả đến người bình dân thấy vẫn còn điều lợn cợn mà chưa ai đề cập đến.
Ngẫm mãi, thứ Bẩy cả nhà đi vắng, rỗi viết lại và lên tiếng, không phải a dua “theo đám đông” mà nói lên cái Tâm, cái Trí của mình, cũng là một cách tri ân tiền nhân!
1. Nam quốc sơn hà 南國山河 là 4 chữ đầu một bài thơ thể thất ngôn tứ tuyệt, hiện còn chưa rõ tác giả chứ không phải tên bài thơ và tác giả là Lý Thường Kiệt như nhiều người khẳng định. Đây là bài thơ “THẦN” 神詩  được coi là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam và chỉ được đưa vào chính sử khi nhóm Ngô Sĩ Liên (吳士連, ?-?) soạn “Đại Việt Sử ký Toàn thư” 大越史記全書 từ giữa thế kỷ XV, khắc in vào năm 1697 dựa trên cuốn Đại Việt sử ký 大越史記  của Lê Văn Hưu (黎文休, 1230-1322) soạn hồi thế kỷ XIII mà nay đã bị thất lạc.
Theo những tư liệu hiện có thì bài thơ này do Thần đọc giúp cả Lý Thường Kiệt (李常傑, 1019 – 1105) phá quân Tống năm 1077 ở phòng tuyến sông Cầu . Nhưng có tư liệu nói do Thần từng đọc giúp Lê Hoàn (黎桓,  941 – 1005) đánh quân Tống (宋朝, 960–1279) năm 981 trên sông Bạch Đằng 白藤江 !.
2. Nội dung bài thơ này hiện tìm thấy 35 dị bản nhưng bài khắc trên Mộc bản triều Nguyễn là bản khắc gỗ cổ nhất còn lại cho đến ngày nay. Phiên bản này thống nhất với bản bài thơ trong Đại Việt sử ký toàn thư có nội dung như sau:
2.1. Nguyên bản chữ Hán:
南國山河
2.2. Bản phiên âm Hán-Việt:
Nam quốc sơn hà
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên phân định tại Thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
2.3. Bản dịch thơ:
Sông núi nước Nam
Sông núi nước Nam, vua Nam ở,
Rành rành phân định tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời
3. Một trong những dị bản là bản quen thuộc mà lứa chúng tôi đã được học:
3.1. Nguyên bản chữ Hán (đổi vị trí 2 chữ và ):
南國山河
3.2. Bản phiên âm Hán-Việt (đổi vị trí 2 chữ định và phân/phận):
Nam quốc sơn hà
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
3.3. Bản dịch thơ :
Sông núi nước Nam
Sông núi nước Nam, vua Nam ở,
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời
(Bản dịch này từ lâu phổ biến trên nhiều sách báo và trong nhà trường, song không ghi tên dịch giả Hoàng Xuân Hãn (1908-1996)).
4. Ngược dòng lịch sử, trước Đại Việt sử ký toàn thư, sách Lĩnh Nam chích quái 嶺南摭怪 do Trần Thế Pháp (陳世法 ?-?) soạn đời Trần (陳朝, 1226–1400) gắn bài thơ với cuộc chiến chống quân Tống lần thứ nhất thời Tiền Lê của Lê Đại Hành năm 981, với nội dung hơi khác một chút như sau:
4.1.Nguyên văn chữ Hán:
南國山河南帝居,
皇天已定在天書。
如何北虜來侵掠,
白刃翻成破竹餘。
4.2. Phiên âm Hán Việt:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư.
Như hà Bắc lỗ lai xâm lược,
Bạch nhận phiên thành phá trúc dư.
4.3. Dịch nghĩa:
Sông núi nước Nam thì Hoàng đế nước Nam ở.
Thượng đế đã định rõ như vậy trong sách trời.
Cớ sao giặc phương Bắc lại tới đây xâm lược,
Gươm sáng sẽ chém hết các ngươi tan tành như chẻ tre.
5. Như đã nói ở trên, đến nay các học giả đã tìm thấy 35 dị bản bằng chữ Hán của bài thơ THẦN này, vì thế, có nhiều bản dịch cũng là chuyện bình thường.
Gần đây dư luận xôn xao bởi bản dịch có nội dung là:
Núi sông Nam Việt vua Nam ở,
Vằng vặc sách trời chia xứ sở.
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây?
Chúng mày nhất định phải tan vỡ.
Thực ra đây không phải là bản “dịch mới, dịch lại” như nhiều người nói mà nó là bản dịch của 2 nhà Hán học uyên thâm là Giải nguyên Lê Thước (1891 - 1975) và Tú tài Nam Trân (1907-1967) có trong cuốn Thơ văn Lý Trần - tập 1, NXB Khoa học xã hội, 1977!
Hơn nữa dịch, nhất là dịch thơ ra thơ luôn mang tính tương đối nên băn khoăn về “dịch mới, dịch lại”, “làm mất ý nghĩa bài thơ” là không có cơ sở.
6. Cá nhân tôi, do ham thích nên đã đọc nhiều các lời giảng, lời bình mà không ít tác giả là những Giáo sư, Tiến sĩ dạy Đại học, nghiên cứu ở Viện nọ, trường kia, bằng cấp Hán văn, Anh văn…đầy mình. Tôi thán phục họ bởi đó là những bậc thầy về chuyên ngành trong khi mình chỉ là hậu sinh, không học chuyên ngành, kiến thức lỗ mỗ và chắp vá. Song từ tâm thức mình, tôi thấy những bài viết đó có bài thể hiện rõ tác giả chưa nắm chắc về lịch sử Việt, Hán, về sự tế nhị của thời cuộc và do vậy họ chưa nhận ra sự sâu sắc trong những chữ đầy ẩn dụ của tiền nhân. Sau đây, qua mấy chữ của 2 câu đầu sẽ thấy:
7. Câu thứ nhất: 南國山河南帝居 (Nam quốc sơn hà Nam đế cư)
7.1. Chữ “hà” trong “sơn hà” 山河:
Hán tự có 2 chữ chỉ sông, đó là (hà) và (giang) và ở Trung Quốc:
- 2 tỉnh nằm ở phía bắc, trung của Trung Quốc, tức hai bờ sông Hoàng Hà 黃河 được xem là vùng đất phát nguyên trung tâm của nền văn minh Trung Hoa 中华文化 là: Hà Bắc 河北 và Hà Nam 河南 thường gọi là Lưỡng Hà 兩河;
- Còn tỉnh nằm cách xa trung tâm và độc lập với nền văn minh Hoa Hạ 華夏 cổ cũng gắn với sông nhưng lại lấy chữ “giang”:  Chiết Giang 浙江 (trong tiếng Việt hay bị viết nhầm thành Triết Giang), Giang Tô 江苏, Giang Tây 江西.
 Bài thơ dùng chữ  (hà) hàm ý khẳng định Việt và Hoa là hai xứ khác nhau, hai đất nước khác nhau và nước Việt lập quốc ngang thời với vùng Hoa Hạ. Đất nước này có văn minh riêng-Văn minh sông Hồng mà chữ Hán là 紅河 (Hồng hà) chứ không phải là phên dậu sau này nhập vào Bắc quốc như vùng Giang Nam 江南 (vùng đất nằm về phía nam của hạ lưu Trường Giang 長江 (Dương Tử 扬子江, con sông dài nhất châu Á)) !
7.2. Chữ “đế” trong “Nam đế” 南帝:
Quốc gia quân chủ là quốc gia mà cấu trúc chính quyền có vua đứng đầu. Tùy độ lớn của quốc gia  mức độ ảnh hưởng của nó tới lân bang mà người đứng đầu đó có thể gọi là:
- Hoàng đế (H: 皇帝, A: emperor , P: empereor là tước vị cao của vua thường là người cai trị của một đế chế hoặc loại khác của vương quốc đế quốc. Chữ này do Doanh Chính (嬴政/Triệu Chính 趙政, 259 tCn-210 tCn) đặt ra khi diệt 6 nước, thống nhất trung nguyên (221 tCn) sáng lập ra nhà Tần (秦朝, 221 tCn - 206 tCn), trở thành  Tần Thủy Hoàng 秦始皇.
- Vương mà tiếng Việt gọi là “Vua” 君主 là người đứng đầu tối cao, thực tế hoặc biểu tượng, của chính quyền quân chủ ở một quốc gia. Nó là cấp dưới thấp hơn “đế”, do “đế” phong.
Trong lịch sử thời phong kiến tự chủ, để sống yên ổn bên cạnh anh hàng xóm lớn, nặng tư tưởng bá quyền, các triều đình Đại Việt đã tìm ra cách chung sống hiệu quả bằng cách ứng xử “trong đế ngoài vương”! Tức là: bên ngoài vẫn cầu phong, xưng thần với “thiên tử” Trung Quốc nhưng bên trong thì đường hoàng là hoàng đế Việt Nam, “nghêng ngang riêng một biên thuỳ, thiếu gì cô quả thiếu gì bá vương”.
7.3. Trong bài thơ, cổ nhân dùng “Sơn hà” và “Nam đế” hàm ý: Nước Nam, “vốn xưng nền Văn hiến đã lâu” và có chủ, chủ là Hoàng đế giống như bên Bắc quốc! Nên mọi bản dịch chữ “南帝” (Nam đế) chuyển thành “Vua Nam” là chưa nêu bật được tinh thần quốc gia, tự tôn dân tộc của bài thơ!
8. Về câu thứ 2: /分定 (Tiệt nhiên định phận/phân định tại Thiên thư)
8.1. Chữ “phận” (cũng đọc là “phân”) có nghĩa là tách chia, địa phận, ranh giới, biên giới và cũng có nghĩa là danh phận, chức phận, số phận. Do vậy viết “định phận” sẽ được hiểu là số phận đã định, gợi lên một liên tưởng tiêu cực, thụ động. Phải là “phân định” thể hiện rõ việc “núi sông bờ cõi đã chia” rất rõ ràng.
8.2. Thiên Thư 天書 là sách Kinh Thư 書經, tức bản Thượng Thư 尚書 mà Khổng Tử (孔子,  551 –479 tCn) đã san định trong đó có kể về Việt Thường Thị    giao hảo với nhà Chu (周朝, 1122 –249 tCn) cống chim Trĩ. Các sử gia Trung Hoa về sau đều căn cứ vào đó để chép, phân tích, nghiên cứu lịch sử và tư tưởng chính trị của Trung Quốc thời cổ đại.
Về việc này Đại Việt sử ký toàn thư chép:  Thời Hoàng Đế   dựng muôn nước, lấy địa giới Giao Chỉ   về phía Tây Nam, xa ngoài đất Bách Việt  . Vua Nghiêu sai Hy thị đến ở Nam Giao   để định đất Giao Chỉ ở phương Nam. Vua Vũ chia chín châu  thì Bách Việt thuộc phần đất châu Dương  , Giao Chỉ thuộc về đấy. Từ đời Thành Vương   nhà Chu mới gọi là Việt Thường thị   , tên Việt bắt đầu có từ đấy.
8.3. Từ “Phân định” dẫn ở sách “Thiên thư”, tiền nhân khẳng định Việt và Hoa  hay nói cách khác Nam và Bắc là hai quốc gia khác nhau, độc lập với nhau và điều đó đã được phân chia ranh giới rõ ràng từ thượng cổ. Do vậy, cùng với câu 1 đã phân tích ở trên bài thơ được xem là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Việt.
Trên tinh thần ấy, tôi thích bản dịch ở Đại Việt sử ký toàn thư:
Sông núi nước Nam, Nam đế ở,
Rõ ràng phân định tại sách trời
Cớ sao nghịch tặc sang xâm phạm?
Cứ thử làm xem, chuốc bại nhơ!


-Lương Đức Mến, Thu Ất Mùi 2015-

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...