Chào mừng bạn đã ghé thăm,
Chúc bạn Vui, Khỏe, quanh năm Phát tài.
Nỗi niềm muốn nối vòng dài,
Kết giao muôn nẻo, tương lai nối gần.
-*-
Địa chỉ: SN 328 đường Hoàng Liên, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
ĐT DĐ: 0913 089 230 - Email: luongducmen@gmail.com.

Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2018

NGHĨ VỀ HIỆN TƯỢNG LẠ, XẤU, HẠI

Tranh cổ động khai thác trên mạng
1. Từ Công xã nguyên thủy chuyển sang chế độ Bộ lạc, rồi Liên minh bộ lạc tiến tới có Nhà nước, xã hội loài người đã hình thành giai cấp và quốc gia. Khi đó lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử đấu tranh giai cấp và đấu tranh giữa các dân tộc. Các cuộc đấu tranh đó diễn ra dưới hình thức Chiến tranh, mà lực lượng nòng cốt là quân đội. Kết cục của chiến tranh là đầu rơi máu chảy, là hoang tàn đổ nát, là sự bành trướng của dân tộc này, sự đồng hóa hay biến mất của dân tộc khác đồng thời gây những hệ lụy kéo dài về nhiều mặt cho cả 2 phía, trong đó là sự rối loạn về trật tự xã hội đã được thiết lập, ổn định.
Đồng thời với hiện tượng trên, còn một hiện tượng nữa tồn tại ở xã hội có giai cấp, đó là tội phạm và các vi phạm pháp luật. Các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội làm nẩy sinh nhu cầu cần thiết làm rõ hành vi nào là tội phạm và tìm ra kẻ phạm tội để trừng phạt, hành vi nào cần giáo dục, răn đe, ngăn ngừa. Để làm được điều đó, những nhà nước Cổ đại dựa vào lời thề, tra tấn buộc phải thú tội và lời khai nhân chứng. Khi xã hội càng văn minh thì nhu cần đó ngày càng phải chính xác và khách quan hơn, để xử lí sao cho “đúng người, đúng tội, đúng pháp luật”. Nhưng sơ khởi việc định tội căn cứ vào ý thức chung và kinh nghiệm thực tế của quan toà hay người đứng ra phân xử.
Mặt khác, trong cuộc sống thường nhật, con người có nhiều mối quan hệ cần điều chỉnh, nhiều quyền lợi về sở hữu, về nhân thân cần được bảo vệ. Tức là rất cần thiết lập sự quản lý trật tự xã hội.
2. Cùng với sự tiến hóa của loài người và sự tiến bộ về tổ chức xã hội, việc điều chỉnh đcác mối quan hệ đó cũng tiến dần từ tập tục nâng thành luật tục rồi ra đời các Bộ Luật và các văn bản quy phạm pháp luật.
Nhà nước sử dụng tổng hợp các phương thức, các công cụ khác nhau như giáo dục thuyết phục, văn hoá, nghệ thuật để quản lý xã hội. Nhưng phương thức quản lý cơ bản bao trùm nhất lên tất cả các quan hệ xã hội là quản lý bằng pháp luật, tức là thiết lập nền pháp chế.
Những văn bản quy định những quy tắc, chuẩn mực mang tính bắt buộc chung phải thi hành hay thực hiện đối với tất cả tổ chức, cá nhân có liên quan, và được ban hành hoặc thừa nhận bởi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
3. Ở nước ta, Quốc hội ban hành Luật, Nghị quyết; Chính phủ ban hành Nghị định; các Bộ ra Thông tư để mọi người, mọi cơ quan, tổ chức biết, thi hành. Nếu vi phạm phải bị xử lý.
Quá trình xây dựng các văn bản đó theo một trình tự chặt chẽ, đảm bảo nguyên tắc,...quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Trong đó chú trọng các Nguyên tắc: đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, khách quan, khoa học, dân chủ, pháp chế, sự hài hoà về lợi ích giữa các lực lượng xã hội, công khai trong quá trình xây dựng pháp luật, tính khả thi của các quy định.
4. Thời gian gần đây rộ lên việc phản đối dẫn đến chống việc thông qua tại Kỳ họp thứ 5 Quốc hội XII về Dự luật Đặc khu, Dự luật An ninh mạng.
Mọi công dân, tổ chức đều có quyền, trách nhiệm tham gia phản biện để dự luật được hoàn thiện hơn nhưng chống đối kịch liệt trên diện rộng lại là hiện tượng không bình thường !
Đặc biệt là việc hô hào và thực tế đã có một vài nơi người dân xuống đường tuần hành, biểu tình với đông người tham gia lại càng không bình thường!
5. Đằng sau hiện tượng, “phong trào” đó là cái gì? Tại sao cứ “lèo” vào bóng dáng “Trung Nam Hải”?
Điều đó có chứng tỏ “dân trí ta cao hơn”, đời sống xã hội “đã dân chủ hơn”?
“Bóng ma cách mạng mầu” đã lởn vởn, thâm nhập?
Mỗi người chắc sẽ có lý giải riêng! Song một điều cần thống nhất, là: Nếu không có luật và bất kỳ dự luật nào ra đời cũng bị rào rào phản đối một cách thiếu xây dựng thì khác gì “đẽo cày giữa đường”, còn đâu kỷ cương phép nước!

Điều đó buộc những cơ quan có trách nhiệm phải nghiên cứu, tìm cách hạn chế, khắc phục, xử lý; những công dân chân chính không khỏi suy nghĩ và tìm cách nâng cao thể trạng, tạo kháng thể hữu hiệu để phòng lây bệnh.

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Ba, 29 tháng 5, 2018

4. GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP Ở TRUNG HOA


4.1. Tổ chức của Bộ Công an Trung Quốc:
Khác Việt Nam, Trung Quốc tổ chức LLAN và LLCS riêng và CSND gọi là “Cảnh giám” nằm trong Bộ Công an, bạn không coi CSND là lực lượng vũ trang nên không có cấp hàm. Nếu Việt Nam có 4 bậc: Tướng, Tá, Úy, Sĩ thì Cảnh sát Trung Quốc có Tổng Cảnh giám (Bộ trưởng), Phó Tổng Cảnh giám (Thứ trưởng) và Cảnh Giám, Cảnh Đô, Cảnh Ti, Cảnh Viên và trong mỗi bậc nếu ở ta có 4 cấp: Đại, Thượng, Trung, Thiếu thì bạn có 4 bậc Nhất, Nhì, Tam.
Theo trang Web của Bộ Công an Trung Quốc 中华共咊人民国公安部 thì cơ cấu của Bộ Công an như sau:
部长:-Bộ trường -bù cháng -Bộ trưởng
   孟建柱- Mạnh kiến trụ- mèng jiàn zhù-Mạnh Kiến Trụ
副部长: -Phó bộ trường -fù bù cháng -Thứ trưởng   刘 京-Lưu kinh-liú jing-Lưu Kinh
   杨焕宁-Dương hoán trữ- yáng huàn níng-Dương Hoán Trữ
   刘金国-Lưu kim quốc-liú jin guó-Lưu Kim Quốc
   孟宏伟-Mạnh hoành vĩ-mèng hóng wĕi-Mạnh Hoành Vĩ
   张新枫-Trương tân phong-zhang xin feng-Trương Tân Phong
   刘 德-Lưu đức-liú dé-Lưu Đức
纪书记、督察长: -Kỉ ủy thư kí, đốc sát trường -jì wĕi shu jì, du chá cháng -Thư ký
   祝春林-Chúc xuân lâm-zhù chun lín-Chúc Xuân Lâm
政治部主任:-Chánh trì bộ chủ nhiệm -zhèng zhì bù zhŭ rèn -Chủ nhiệm Văn phòng
   蔡安季-Thái an quý-cài an jì-Thái An Quý
部长助理: -Bộ trường trợ lý -bù cháng zhù lĭ -Trợ lý Bộ trưởng   陈智敏-Trần trí mẫn-chén zhì mĭn-Trần Trí Mẫn
   黄 明 -Hoàng minh-huáng míng -Hoàng Minh
内设部门 -Nội thiết bộ môn-nèi shè bù mén -Cơ cấu tổ chức·办公厅-Bạn công thính-bàn gong ting-Văn phòng tổng hợp
·纪检监察局-Kỉ kiểm giam sát cục-jì jiăn jian chá jú-Cục Kỷ luật kiểm tra và giám sát
·警务督察局-Cảnh vụ đốc sát cục-jĭng wù du chá jú-Ban thanh tra Công an
·人事训练局-Nhân sự huấn luyện cục-rén shì xùn liàn jú-Cục Đào tạo nhân viên
·宣传局-Tuyên truyện cục-xuan chuán jú-Cục tuyên truyền
·经济犯罪侦查局-Kinh tể phạm tội trinh tra cục-jing jì fàn zuì zhen chá jú-Cục Điều tra tội phạm kinh tế
·治安管理局-Trì an quản lý cục-zhì an guăn lĭ jú-Cục Quản lý trị an
·边防管理局-Biên phòng quản lý cục- bian fáng guăn lĭ jú-Cục Quản lý Biên phòng
·刑事侦查局-Hình sự trinh tra cục-xíng shì zhen chá jú-Cục Điều tra hình sự
·出入境管理局-Xuất nhập cảnh quản lý cục-chu rù jìng guăn lĭ jú-Cục Quản lý xuất nhập cảnh
·消防局-Tiêu phòng cục-xiao fáng jú-Cục Phòng cháy, chữa cháy
·铁道部公安局-Thiết đạo bộ công an cục- tiĕ dào bù gong an jú-Cục Công an trong Bộ Đường sắt
·公共信息网络安全监察局-Công cộng tín tức võng lạc an toàn giam sát cục-gong gòng xìn xí wăng luò an quán jian chá jú-Cục Giám sát an ninh mạng
·监所管理局-Giam sở quản lý cục- jian suǒ guăn lĭ jú-Cục Quản lý trại giam
·交通部公安局-Giao thông bộ công an cục-jiao tong bù gong an jú-Cục Công an giao thông
·民航总局公安局-Dân hàng tổng cục công an cục-mín háng zǒng jú gong an jú-Cục Quản lý an ninh Hàng không dân dụng
·国家林业局森林公安局-Quốc gia lâm nghiệp cục sâm lâm công an cục-guó jia lín yè jú sen lín gong an jú-Cục bảo vệ tài nguyên rừng
·交通管理局-Giao thông quản lý cục-jiao tong guăn lĭ jú-Cục Quản lý lưu lượng truy cập
·法制局-Pháp chế cục-fă zhì jú-Cục Pháp chế
·国际合作局-Quốc tế hợp tác cục-guó jì hé zuò jú-Cơ quan Hợp tác Quốc tế
·装备财务局-Trang bị tài vụ cục-zhuang bèi cái wù jú-Cục Trang thiết bị Tài chính
·禁毒局-Cấm độc cục-jìn dú jú-Cục Kiểm soát các chất bị cấm
·科技局-Khoa kĩ cục- ke jì jú-Cục Công nghệ ·海关总署缉私局- Hải quan tổng thự tập tư cục-hăi guan zǒng shŭ qì si jú-Cục Hải quan chống buôn lậu
Đã có BÀI KHÁC ĐẦY ĐỦ HƠN cũng trong mục này

4.2. Hệ thống giám định ở Trung Quốc:
Được tổ chức gần như Việt Nam trong đó giám định phục vụ các cơ quan hành pháp là giám định miễn phí còn giám định phục vụ yêu cầu dân sự ngoài xã hội có thu phí. Do vậy ngoài hệ thống giám định do Bộ Công an Trung Quốc (中华共咊人民国公安云部, Trung hoa cộng hòa nhân dân quốc công an bộ, Zhōng huá gòng hoa rén mín guó gong an yún bù) quản lý được tổ chức chặt chẽ theo đơn vị hành chính, chuyên trách và được đào tạo bài bản phục vụ công tác điều tra, truy tố và xét xử (án hình sự, án chính trị) còn có các tổ chức giám định tư nhân mà phần lớn người giám định là cán bộ KTHS của lực lượng Công an nghỉ hưu và chủ yếu đáp ứng yêu cầu trong dân sự, hành chính..
Hiến pháp (sửa đổi 2004)[1] Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quy định có 3 cấp hành chính: tỉnh, huyện và hương. Nhưng trên thực tế, ngoài cấp trung ương ra, Trung Quốc được chia thành 5 cấp đơn vị hành chính là: tỉnh 省, địa khu 地区, huyện 县, hương 鄉 và thôn 村. Tuy nhiên, cấp thôn không phải là cấp chính quyền chính thức, cấp hương (như xã của ta) không có KTHS. Do vậy Hệ thống giám định cũng được thiết lập ở cấp Trung ương, cấp tỉnh và huyện theo từng tầng: cấp trên được đầu tư tốt hơn, trình độ cao hơn, nhiệm vụ rộng, lớn hơn và có trách nhiệm chi viện, hướng dẫn, đào tạo, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật cho cấp dưới:
- 1 Trung tâm giám định thuộc Bộ,
- 4 Trung tâm Giám định của 4 thành phố trực thuộc (直轄市) và 27 Trung tâm Giám định của 22 tỉnh (省) và 5 Khu tự trị (自治区) (cỡ 200 người/TT),
- 27 Viện Giám định của 27 thành phố thuộc tỉnh (地级市) và 300 Viện KHHS của các thành phố khác (50 người/Viện),
- 2.900 Phòng KHHS cấp huyện (县), huyện nhỏ biên chế 5 cán bộ, huyện lớn tới 100 người; Công an cấp huyện đều có bác sĩ pháp y và có 13 huyện vùng duyên hải đã triển khai giám định gen[2].
Mỗi cấp có nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau nhưng đều chung quy chuẩn chuyên môn. Hiện nay đội ngũ làm công tác giám định trong Công an Trung Quốc có khoảng 31.000 người và bạn đã có Kế hoạch đến 2014 nâng lên 60.000 người. Nguồn cán bộ KTHS hàng năm bổ sung 500 người từ Học viện Kỹ thuật hình sự ở Thẩm Dương 沈阳刑侦技术学院 (Trầm dương hình trinh kĩ thuật học viện, Shĕn yáng xíng zhen jì shù xué yuàn) và Trường Đại học Công an ở Bắc Kinh 北京公安大学 (Bắc kinh công an đại học, Bĕi jing gong an dà xué)[3].

Là cơ quan giám định đa ngành thuộc Bộ Công an Trung Quốc (中国公安部物证鉴定中心, Trung quốc công an bộ vật chứng giám định trung tâm, Zhōng guó gong an bù wù zhèng jiàn dìng zhōng xīn) .
Trụ sở tại: Số 17, Ngõ Đăng Nam, Quận Tây Thành, Thành phố Bắc Kinh (北京市西城区木樨地南里17号, Bắc kinh thị tây thành khu mộc tê địa nam lý 17 hiệu, bĕi jing shì xi chéng qu mù xi dì nán lĭ 17 hào) trong khuôn viên 15.000m2.
Mã số 邮编: 100038 Fax 传真: 010-63267051.
Trang Web: http://www.ifs.org.cn/dxal.asp; E-mail: webmaster@ifs.org.cn. 地址:北京市西城区木樨地南里17号邮编:100038  传真:010-63267051  E-mail: webmaster@ifs.org.cn
Tên giao dịch quốc tế: Institute of Forensic Science Ministry Public Security P.R.C.
Lịch sử: Ngày 06/12/1972, trên cơ sở đề nghị của Bộ Công an, Bộ Công nghệ Chính phủ đã thành lập các cơ sở chuyên môn kỹ thuật phục vụ điều tra tội phạm trong tố tụng hình sự với tên gọi “Viện nghiên cứu của Bộ Công an” (一二六研究所, nhất nhị lục nghiên cứu sở, Viện nghiên cứu 126). Để tăng cường việc tìm kiếm, xác lập các chứng cứ và kiểm tra hoạt động trong tố tụng hình sự, dân sự, phù hợp với cơ quan hành chính, cũng như thúc đẩy các quyền hạn của các viện, được Trung ương Đảng phê chuẩn, năm 1984, Viện đổi thành “Viện Nghiên cứu số 2”-第二研究所, Đệ nhị nghiên cứu sở, dì èr yán jiù suǒ) và từ 01/11/1996 Viện mang tên chính thức như hiện nay: Trung tâm giám định vật chứng 物证鉴定中心 (Vật chứng giám định trung tâm, wù zhèng jiàn dìng zhōng xīn)[4]. Ngày 26/10/2006 Trung tâm thông qua ISO 17025, được công nhận là cơ quan giám định cấp nhà nước, được trên 50 nước công nhận kết quả giám định.
Đội ngũ : Trong Trung tâm số cán bộ quản lý, nghiên cứu khoa học và thực hành khám nghiệm, giám định gồm 301 người với 251 nhân viên kỹ thuật. Trong đó 35 Giáo sư, 83 Phó Giáo sư, đặc biệt có 20 nguời do những thành tựu xuất sắc được Chính phủ áp dụng chế độ Chuyên viên 研究员, Phó Chuyên viên 副研究员 với những phụ cấp đặc biệt[5], được tham gia vào quá trình Tố tụng hình sự đối với các vụ, việc khó khăn đồng thời tiến hành một nghiên cứu khoa học và công nghệ nhằm thúc đẩy sự phổ biến của các hoạt động áp dụng công nghệ mới, phương pháp mới, thiết bị mới phục vụ an ninh công cộng.
Cơ cấu tổ chức: 13 chuyên khoa: Tổn thương bệnh lý pháp y, Vật chứng pháp y, Giám định Gen, Chất độc, Ma túy, Vi vết, Vân tay, Dấu vết cơ học, Tài liệu, Âm thanh, Tin học, Ảnh…Trong đó giám định gen và “gen tiếp xúc”[6] chiếm tới 50% công việc của Trung tâm. Giám định Pháp y có: Bác sĩ Chủ nhiệm 主任法医师, Phó Chủ nhiệm 副主任法医师, Chủ trị 主治 và Trợ lý; Giám định Kỹ thuật có Nghiên cứu viên 研究员, Phó Nghiên cứu viên 副研究员, Trợ lý 助俚 và Thực tập viên 实习员; các lĩnh vực giám định khác là: Kỹ sư Cao cấp 高級伎师, Kỹ sư và Trợ lý đều Tốt nghiệp Đại học chuyên ngành và được đào tạo nghiệp vụ giám định tại Trung tâm.
Trang bị: hiện đại, bao gồm cả Kính Hiển vi điện tử quét electron microscopy, Fourier transform spectrometer hồng ngoại, vi-spectrophotometer, gas chromatography / mass spectrometer, ga chromatograph, chất lỏng chromatograph, multi-band ánh sáng phát hiện hệ thống, UV-Vis spectrophotometer, TLC máy quét, Forensic phân tích hình ảnh, DNA amplification cụ, DNA sequencer, phát biểu ghi nhận workstations, kiểm tra công cụ, tài liệu, cũng như các trang thiết bị phòng thí nghiệm[7].
Nhiệm vụ chính là:
- Thiết lập các chứng cứ qua giám định vật chứng để xác định các công việc của cảnh sát điều tra tội phạm, cung cấp chứng cứ trước Toà trong trong các vụ án trên phạm vi toàn quốc;
- Chi viện giúp các địa phương, các khu vực và thành phố về giám định vật chứng trong quá trình điều tra khám phá các vụ án hình sự, dân sự, hành chính;
- Chịu trách nhiệm xây dựng và ban hành các quy tắc, quy trình giám định;
- Nghiên cứu khoa học, chế tạo phương tiện thiết bị chuyên môn;
- Đào tạo cán bộ, hướng dẫn nghiệp vụ và chuyển giao công nghệ kỹ thuật điều tra tội phạm cho Công an các địa phương;
- Thực hiện các công việc khác của Bộ Công an giao.

4.3. Việc bạn đã làm:
- Giám định là công tác trọng tâm của công tác Trung tâm. Từ ngày thành lập đến nay, Trung tâm đã hoàn thành hơn 40.000 trường hợp phát hiện và giám định vật chứng phục vụ công tác điều tra, đặc biệt các vụ án lớn, như: "vụ Giết người cướp tài sản ở Hồ Thiên Đảo", "Nổ lớn ở Gia Trang", "Vụ Trịnh Châu cướp tài chính ngân hàng "...) cung cấp một bằng chứng chính xác và khoa học. Hiện tại, trung bình hàng năm có hơn 5.000 yêu cầu cầu giám định được hoàn thành (mỗi GDDV thực hienej 65 yêu cầu). Trung tâm tập trung bố trí lực lượng, phương tiện để có kết luận chính xác về các lĩnh vực : tổn thương bệnh lý pháp y, thương tích pháp y, xét nghiệm DNA , xét nghiệm độc chất, các dấu vết vi lượng, chữ viết, chữ ký, dấu vết đường vân, tổn thương do đạn bắn, kỹ thuật tài liệu, ảnh hình sự, dựng lại hiện trường. Do thực hiện tốt phương châm : “Tuân thủ pháp quy, khoa học quản lý, tăng cường giám sát, đảm bảo chất lượng” (“遵守法规、科学管理、强化监督、保证质量” nên các kết luận giám định đều đảm bảo tính khoa học, tính công bằng và tiên tiến (“公正性、科学性、先进性”) . Do vậy Trung tâm thực sự là nơi giám định cao nhất, có uy tín, tập trung mọi nhân tài, vật lực để đáp ứng yêu cầu công tác giám định vật chứng của các địa phương, nhiều lĩnh vực đạt trình độ thế giới. Do vậy các GDDV của Trung tâm ít được Tòa án gọi ra bảo vệ kết luanaj giám định.
- Công tác nghiên cứu khoa học giải quyết các yêu cầu đề ra trong Tố tụng hình sự và Khoa học-Công nghệ, Kỹ thuật điều tra tội phạm được Trung tâm chú trọng, chiếm quá nửa ngân sách và thời gián của cán bộ đạt 5-10 công trình/năm.
Trung tâm chặt chẽ tập trung vào nghiên cứu giải quyết những nhu cầu cần giải quyết từ thực tế, đã có hơn 200 đề tài nghiên cứu cấp cao được nghiệm thu, triển khai, ứng dụng, trong đó có 31 kỹ thuật đạt đẳng cấp quốc tế. Ví dụ quy trình công nghệ phục vụ giám định DNA được đánh giá là một trong những “Thành tựu quốc gia quan trọng nhất”, được hơn 50 Phòng Thí nghiệm Pháp y của các quốc gia trên thế giới ứng dụng thử nghiệm. Trong những năm qua, trung tâm đã có những Đề tài, Công trình thành tựu khoa học Giải thưởng Khoa học và Công nghệ Quốc gia và của Bộ Công an Trung Quốc. Ngoài ra Trung tâm còn cử nghiên cứu sinh đi du học tại nước ngoài và nhận nghiên cứu sinh nước khác đến học tập, Các Giáo sư, Chuyên viên của Trung tâm tham gia viết bài cho các Tạp chí nổi tiếng trên thế giới.
- Đào tạo, Bồi dưỡng là nhiệm vụ được Bộ Công an giao. Thực hiện chức năng này, năm 1985 đã thiết lập cơ sở đào tạo 0ử Tần Thành và ở Hà Bắc. Đến nay đã tổ chức 372 khóa học cho khoảng 15.000 cán bộ KTHS trong lực lượng Cảnh sát. Ngoài ra Trung tâm còn tiến hành việc bồi dưỡng kiến thức giám định vật chứng cho cán bộ công tác tại các cơ quan Kiểm sát, Tòa án, An ninh công cộng, giáo dục y tế với khoảng hơn, Trung tâm cũng đã nhận và hướng dẫn được 24 nghiên cứu sinh về Pháp y.
Hiện nay, Trung tâm có một đội ngũ các chuyên gia vững vàng cả lý thuyết và thực hành, có kinh nghiệm giảng dạy và được hỗ trợ bởi hệ thống trang thiết bị hiện đại. Điều đó đáp ứng được yêu cầu tăng cường năng lực khoa học kỹ thuật cho lực lượng Cảnh sát ( "科技强警" Khoa kĩ cường cảnh, ke jì qiăng jĭng) .
- Nghiên cứu sản xuất phương tiện, trang thiết bị chuyên dụng cho lực lượng KTHS nói riêng và cho công tác Công an nói chung được đầu tư tương xứng. Đặc biệt Trung tâm đã chú trọng đưa những thành tựu, công nghệ mới nhất vào thực tế để đưa ra những thiết bị, phương tiện kỹ thuật tiên tiến đáp ứng yêu cầu công tác đấu tranh với tội phạm công nghệ cao, tội phạm phi truyền thống. Trong đó, Đèn chiếu sáng đa năng, Keo 502, các loại bột, dung dịch phát hiện đường vân trên mọi chất liệu…, Đèn kiểm tra tài liệu, Vali Khám nghiệm Hiện trường loại lớn…đã được sản xuất, cung cấp cho Công an của 30 tỉnh, thành phố trong các cơ quan an ninh công cộng. Hoặc xe Điều tra tội phạm, Thiết bị đặc biệt nghiên cứu đạn đạo, độc học, kỹ thuật bảo an tài liệu …cũng đạt trình độ cao.

Chiều 06/6 bạn dẫn chúng tôi thăm quan Phòng Giám định dấu vết cơ học, Hóa học, AND, Giám định dấu vết phần cứng, phần mềm máy vi tính. Trong toà nhà 9 tầng, các Phòng chức năng được bộ trí khép kín, ra vào có khoá từ. Phương tiện, thiết bị hầu như rất mới (được bổ sung phục vụ Thế vận hội Bắc Kính 2008) và của các hãng tiên tiến như Đức, Nhật, Mỹ, hầu như ít thấy của TQ; các phòng đều bố trí nơi tiếp nhận mẫu, nơi giám định và nơi trả kết quả riêng. Một số yêu cầu của chúng tôi bạn không cung cấp, như thành phần công thức hóa học chất IDO, DFO, PE 68, phần mềm đặc điểm tiền Nhân dân tệ, nâng cấp ảnh nhòe…và cá biệt có một vài phòng bạn yêu cầu không quay Film, chụp ảnh.

=*=
[1] Trung Quốc từng có các Hiến pháp : 1954 1975 1978[2] Số liệu trên chưa tính tới 2 Đặc khu hành chính (特別行政區/特别行政区 đặc biệt hành chính khu; tiếng Anh viết tắt SAR), có quyền tự trị cao theo thể chế “Một quốc gia hai chế độ” là Hồng Công và Ma Cao.[3] Phương châm đào tạo là : “忠诚、求是、团结、奋进”, " trung thành , cầu thị , đoàn kết , phấn tiến ", " zhong chéng , qiú shì , tuán jié , fèn jìn ".[4] Như vậy ở bạn: từ Viện, sau 12 năm tiến lên thành lập Trung tâm, còn ở ta thì Trung tâm (P7, P8) lại trực thuộc Viện (C21), cũng như “Học viện Thuỷ lợi” xưa phấn đấu lên thành “Đại học Thuỷ lợi” nay và “Đại học CSND” nay nâng cấp thành Học viện CSND” ! Đó là do quan niệm, chưa rõ Trung tâm hay Viện cơ cấu nào “to” hơn ?[5] Được xếp lương ngang lãnh đạo cấp Cục.[6] Khái niệm này còn khá mới với chúng tôi.[7] Một số thuật ngữ khoa học và tên thiết bị chữ Hán tôi không dịch được, hoặc chuyển ngữ sai. Thông cảm.

Xem tiếp bài 5 "NGÀY BẾ GIẢNG"

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

THU GÌ

Mấy hôm nay nóng từ dư luận, nóng sang nghị trường bởi các TRẠM THU PHÍ trên các tuyến đường được làm theo hình thức BOT (viết tắt của “building – operating - transfer” là một dạng đầu tư theo hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao) nhất loạt đổi sang là TRẠM THU GIÁ.
Người ta lý giải đó là do “Phí sử dụng đường bộ” được chuyển đổi thành “Giá dịch vụ sử dụng đường bộ của các dự án đầu tư xây dựng đường bộ để kinh doanh” theo đúng Luật Phí và Lệ phí (Số: 97/2015/QH13 ban hành ngày 25/11/2015), Luật Giá (Số: 11/2012/QH13 ban hành ngày 20/6/2012) và Nghị định số 149/2016/NĐ-CP ngày 11/11/2016 của Chính phủ. Trên cơ sở đó, Bộ Giao thông Vận tải ra Thông tư 49/2016/TT-BGTVT ngày 30/12/2016 quy định rõ, đầy đủ là “Trạm thu giá dịch vụ sử dụng đường bộ là nơi thực hiện việc thu giá dịch vụ sử dụng đường bộ đối với phương tiện tham gia giao thông” nhưng, có một số trường hợp các nhà đầu tư đã sử dụng tên gọi tắt là “Trạm thu giá”.
Nhưng dư luận thì không thông cả về bản chất và ngữ nghĩa của tiếng Việt.
Còi tôi thấy như vầy:
QUỐC LỘ là của QUỐC GIA,
Khi DÂN LÀM CHỦ cứ đi thẳng đường!
Mà sao anh BOT coi thường,
Hết PHÍ sang GIÁ nẻo đường chặn ngang?

Không đi, nằm lại giữa đàng,
Đi thì kẻ khổ, người sang hết hồn!

ĐƯỜNG LÀNG là của DÂN THÔN,
Thấp cơ, trương biển THU TIỀN được không?

Hỏi thầy, bảo loạn phép công
Hỏi quan, bảo đúng. Bùng nhùng chữ chi.

Nếu SAI nên SỬA NGAY ĐI!
Đừng PHÁ tiếng Việt, đừng LÒE nhân dân!

- Lương Đức Mến, cuối tháng 5/2018-

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Bảy, 19 tháng 5, 2018

Nhân ĐỌC MẤY ẤN PHẨM THƠ

Thơ xưa đã ấm lại trong,
Bởi người viết rất nặng lòng với thơ.
Đượm tình, mây, gió, rượu, hoa
Lời như châu ngọc, ý hòa sắt son.

Thơ nay thì đẻ sòn sòn,
Dù cho hay, dở, méo, tròn đều đăng.
Chỉn chu cho chí lăng nhăng,
Đậm chi một tấc vọt phăng cung Hàn.

Chúa Thơ sao chẳng lệnh ban
Để thơ trở lại vốn nền của Thơ!

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Hai, 14 tháng 5, 2018

TỰ HỌA

Sáu mươi Tư tuổi chửa thấy già,
Lướt “Phây”, dạo “Lốc” mát tay ga.
Rượu tuần dăm bữa vui ngất ngưởng,
Thơ buổi mấy bài, “pốt” vu vơ.
Sáng tâm rạo rực mong Từ Thức,
Đêm dạ bần thần nhớ Nguyệt Nga.
Mặc cho thiên hạ lo giữ của,
Còi ta chỉ ước: MÃI “SEO PHÌ”!?


- Lương Đức Mến, 14/5/2018-
Phần đầu hay tóm tắt Phần còn lại hay mở rộng

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Bảy, 12 tháng 5, 2018

PHẬN HƯU

Tác giả: Nhật Tiến (Cựu SV K69 ĐHQY?)

Về hưu ngẫm lắm sự đời
Lên “Voi”, xuống “Chó” mỗi người khác nhau

Về hưu đi nhảy, đi câu
Tham quan, du lịch Tây, Tàu liên miên
Chẳng lo cơm áo, gạo tiền
Vô tư, thanh thản không phiền lụy ai
Đấy là HƯU TRÍ không sai
Nhưng mà thiên hạ mấy ai có nào ?

Về hưu thậm thụt ra vào
“Buôn dưa”, hóng chuyện tào lao vỉa hè
Rượu bia, cá độ, lô đề
Tối ngày “bám trụ” quán chè làm vui
Loạn ngôn bất mãn với đời
Sẵn sàng “Đấu khẩu” buông lời khó nghe
Thích trò “Thọc gậy bánh xe”
Bà con hàng xóm cười chê: HƯU KHÙNG.

Về hưu nổi máu anh hùng
Xin làm cán bộ “Ba cùng” với dân
Nửa đời chỉ biết làm “Quân”
Nay về làm “Tướng” muôn phần oai phong
Dẹp chợ, cấm, phạt hàng rong
Bắt dân đóng góp từng đồng...vệ sinh
Làm việc để mất chữ tình
Vợ con mới bảo rằng mình: HƯU HÂM.

Về hưu lại nổi máu dâm
“Cưa sừng làm nghé” sưu tầm gái tơ
Về già mới học làm thơ
Đem tiền nuôi gái, ngẩn ngơ tối ngày
Lưới tình càng mắc càng say
Thế nên mới gọi hưu này: HƯU DÊ.

Về hưu lại bỏ về quê
Trồng rau, cuốc đất, chăn dê, nuôi gà
Kiêng đường, thịt, mỡ, trứng, da,
Bia, rượu, thuốc lá...đàn bà cũng kiêng
Kiêng ăn, kiêng cả tiêu tiền
Họ hàng, bè bạn than phiền: HƯU TU.

Về hưu làm việc lu bù
Kiếm tiền tiết kiệm từng xu, từng đồng
Hoặc làm thêm đỡ buồn lòng
Chuốc thêm vất vả long đong tối ngày
Mọi người bảo là đi cày
Cho nên mới gọi hưu này: HƯU TRÂU.

Về hưu chẳng dám đi đâu
Nấu cơm, đi chợ, nhặt rau, quét nhà
Chăm con, nuôi cháu, trông già
Kiêm luôn bảo vệ coi nhà, giữ xe
Thế nên bị gọi khó nghe
Ấy là: HƯU CHÓ, làm thuê trong nhà

Về hưu nhưng vẫn chưa già
Phải về trước tuổi gọi là: HƯU NON.

Về hưu quyền chức không còn
Bổng lộc hết chẳng rút bòn được ai
Khi còn đương chức tác oai
Tham ô, hối lộ, tiêu xài của dân
Về già mất hết người thân
Đệ tử, thân tín cũng dần bỏ đi
Quyền cao chức trọng mà chi
“Hai năm mươi” cũng xanh rì cỏ thôi
Gặp dân không dám mở lời
Hội hè, đình đám mọi người tránh xa
Bán xe, bán đất, bán nhà
Bỏ quê trốn lủi gọi là: HƯU MA.

Về hưu chưa kịp dưỡng già
Đã coi bệnh viện như nhà của riêng
Bao nhiêu sở thích phải kiêng
Đái đường, huyết áp, bệnh tim, đại tràng
Loãng xương, tiền liệt, bàng quang...
Lương vừa mới lĩnh đã mang thuốc rồi
Cháu con mỗi đứa một nơi
Gọi là: HƯU HẮT cuối đời cô đơn

Trời sinh chữ Kém, chữ Hơn
Chữ Nhân, chữ Qủa, chữ Buồn, chữ Vui...
Đắng cay mới có ngọt bùi
Hết mưa nắng lại rợp trời mây bay
Đủ năm, đủ tuổi, đến ngày
Có ai tránh được kiếp này... PHẬN HƯU ?!!!


Hà Nội, tháng 11 năm 2016
P

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Ba, 1 tháng 5, 2018

2. ĐƯỜNG SANG NƯỚC BẠN

Nói đến "Kỹ thuật hình sự" ai cũng nghĩ đó là lực lượng được đào tạo cơ bản, đi nước ngoài như cơm bữa. Nhưng sự thật thì...


Sáng thứ Hai, 25/5 tập trung toàn Đoàn tại Phòng họp số 1 C21 nghe Thiếu tướng Phó Giáo sư Ngô Tiến Quý căn dặn, giao nhiệm vụ trước khi lên đường. Sau đó PC 14 Công an Hà Nội chiêu đãi. Tối Phó trưởng phòng Hóa của C21 gặp. Ngày 26 chuẩn bị. Hộ chiếu công vụ và vé, quà cho Trung tâm giám định, các giảng viên của Trung tâm do các anh trong đoàn ở C21 lo mua và đóng gói, các thành viên trong đoàn cùng chia sẻ trách nhiệm tài chính. Tranh thủ lúc chưa lên đường tôi đi gặp con gái và bạn trai của con và không mua sắm gì thêm.

Sáng 27/5 xe C21 do đ/c Hồng lái đưa đoàn ra sân bay Nội Bài, làm thủ tục.
Sân bay quốc tế Nội Bài là cảng hàng không quốc tế miền Bắc Việt Nam, có tọa độ: 21°13'18 vĩ Bắc, 105°36'16 kinh Đông, nằm trên đất huyện Sóc Sơn, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 30km theo tuyến đường bộ về phía Tây Bắc, khoảng cách này sẽ được rút ngắn còn 15km khi cầu Nhật Tân và tuyến đường nối đầu cầu này với Nội Bài hoàn thành vào năm 2010. Đây nguyên là một căn cứ không quân của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong chiến tranh Việt Nam, đã được cải tạo để phục vụ cả mục đích dân sự và quân sự. Ngày 28 tháng 2 năm 1977, Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam đã ra quyết định thành lập Sân bay quốc tế Nội Bài ở huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Đến ngày 2 tháng 1 nǎm 1978, sân bay chính thức mở cửa hoạt động và đón chuyến bay quốc tế đầu tiên hạ cánh. Năm 1995 nhà ga hành khách T1 được xây dựng và khánh thành vào tháng 10 năm 2001.

Hiện nay Sân bay này là cửa ngõ giao thông quan trọng, là sân bay lớn thứ hai của Việt Nam hiện nay, sau Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất ở Thành phố Hồ Chí Minh về diện tích, công suất nhà ga và số lượt khách thông qua mỗi năm. Sân bay quốc tế Nội Bài.
Tên giao dịch chính thức: Cảng hàng không quốc tế Nội Bài (Noi Bai International Airport). Sân bay này do Cụm cảng hàng không miền Bắc (NAA), thuộc Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam quản lý.

Mã IATA: HAN (theo tên của thủ đô Hà Nội), Mã ICAO: VVNB

Sân bay có hai đường băng để cất cánh và hạ cánh: đường 1A dài 3.200 m, đường 1B dài 3.800 m. Theo tiêu chuẩn của Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (ICAO), công suất tối đa của đường hạ - cất cánh sân bay Nội Bài hiện tại chỉ được 10 triệu hành khách/năm.

3 sân đỗ máy bay A1, A2, A3 với tổng diện tích 165.224 m², 1 nhà ga hành khách T1 với tổng diện tích 90.000 m².Nhà ga T2 đang được xây dựng có 4 tầng, tổng diện tích sàn 90 ha. Công trình đã chính thức khởi công. Dự kiến tổng kinh phí đầu tư khoảng 31 tỉ yen Nhật. Trong 3 năm gần đây, nhà ga của sân bay này bị dột khi trời mưa to. Chưa có kết luận chính thức từ cơ quan có thẩm quyền về nguyên nhân dột là do khâu thiết kế, thi công hay sử dụng.

3 Sảnh Quốc tế (A, B, C) và Sảnh D đi Nội địa. Máy bay của hãng China Southern Airlines đi Bắc Kinh, Quảng Châu ở Sảnh B. Còn máy bay của hãng Vietnam Airlin bay Quốc tế (các tuyến: Bangkok-Suvarnabhumi, Bắc Kinh, Busan, Quảng Châu, Frankfurt, Hồng Kông, Kuala Lumpur, Côn Minh, Moscow-Domodedovo, Luang Prabang, Osaka-Kansai, Paris-Charles de Gaulle, Seoul-Incheon, Siem Reap, Singapore, Taipei-Taoyuan, Tokyo-Narita, Vientiane) ở Sảnh C.

Năm 2008, sân bay này đã phục vụ khoảng 8 triệu lượt khách, dự kiến đạt 20 triệu lượt hành khách vào năm 2025. Theo quy hoạch chung đến năm 2010, nhà ga T2 có công suất giai đoạn 1 là 10 triệu lượt khách mỗi năm sẽ đi vào họat động đưa Sân bay quốc tế Nội Bài đạt công suất 16 triệu hành khách năm, có sân bay dự bị là Sân bay quốc tế Cát Bi (Hải Phòng). Công suất toàn bộ khi nhà ga được nâng cấp sau năm 2025 là 50 triệu lượt khách mỗi năm, là một trong những sân bay trung tâm trong khu vực Đông Nam Á và châu Á.

Chuyến bay CZ 0372 là Airbus A320-200 của hãng Hàng không Phương Nam Trung Hoa CHINA SOUTHERN AIRLINES (中国南方航空公司, Trung quốc nam phương hàng không công ti, Zhōng guó nán fang háng kong gong si)[1] khởi hành từ Nội Bài lúc 8 giờ 35’. Tôi ngồi ghế 31D. Máy bay nhỏ, sức chứa 155 người bố trí 2 hàng ghế 2.3, giữa là lối đi. Nhiều người lần đầu đi máy bay, lại thêm dịch H1N1 nên việc kê khai APPLICATION FOROM (mẫu chữ Anh và chữ Trung) khá lúng túng. Theo quy định phải chuyển tải tại Quảng Châu (Guangzhou 广州)ở sân bay Bạch Vân.

Sân bay quốc tế Bạch Vân[2] Quảng Châu (IATA: CAN, ICAO: ZGGG) (广州白云国际机场; Guǎngzhōu Báiyún Guójì Jīchǎng) là sân bay nằm ở thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, (广东省,广州市,白云区) và cũng là sân bay lớn nhất Trung Quốc, hơn cả sân bay Pudoug ở Thượng Hải cả về số khách và số lần máy bay hạ-cất cánh. Đây là sân bay trung tâm (hub) của hãng hàng không Nam Phương Trung Quốc. Sân bay mới này tọa lạc tại Quận Huadu mở cửa ngày 5/8/2004, thay thế sân bay quốc tế Bạch Vân cũ 72 năm tuổi (đã đóng cửa). Chi phí xây sân bay mới này là 19,8 tỷ NDT, cách trung tâm Quảng Châu (Quảng trường Châu Hải, 州海广场) 28 km và rộng gấp 5 lần sân bay cũ. Giai đoạn 2 dự định hoàn tất năm 2009 sẽ tăng gấp đôi công suất hiện nay. Một nhánh của tàu điện ngầm Quảng Châu cũng đang được xây dựng nối vào sân bay này.
Hiện sân bay đã mở các tuyến bay từ Quảng Châu tới các thành phố như NewYork, Amstexdam, Syney..v..v...thuộc 16 quốc gia và khu vực khác nhau trên thế giới. Ngoài ra, một sân bay mới nằm gần quận Đô Hoa cũng đang được xúc tiến xây dựng. Năng lực vận chuyển và bốc dỡ của sân bay này lớn thứ 2 trong số các sân bay tại Trung Quốc, chỉ đứng sau sân bay quốc tế Bắc Kinh.

Việc kiểm tra an ninh và dịch tễ ở đây khá nghiêm, những người vào ga phải đi qua nhiều phòng. Việc kiểm tra chất nổ do những nữ chiến sĩ của Cục Quản lý Xuất nhập cảnh (出入境管理局, chu rù jìng guăn lĭ jú) to lớn đảm nhận. Riêng phòng kiểm tra dịch tế phải đi vòng vèo qua hệ thông “mê lộ” được thiết lập do các cọc di động và dây mềm. Chính tại đây, do đánh rơi tờ giấy kiểm dịch (giấy vàng) mà suýt Nguyễn Thanh Liêm bị lạc. Mọi chuyện rỗi cũng êm.

Từ Bạch Vân, sau khi hoàn tất mọi thủ tục, tìm được anh Liêm , chúng tôi cùng hành khách vòng ngay trở lại lối vào để ra máy bay bay tiếp đi Bắc Kinh. Do vậy mà không ai kịp chụp được một hình ảnh hoành tráng nào của ga này.

Sân bay quốc tế Thủ Đô Bắc Kinh (tiếng Anh: Beijing Capital International Airport) 北京首都国际机场, Bắc kinh thủ đô quốc tế cơ trường, Běijīng Shǒudū Guójì Jīchǎng) (IATA: PEK, ICAO: ZBAA) là sân bay quốc tế phục vụ thủ đô Bắc Kinh. Dự án nâng cấp sân bay này có giá trị 500 triệu euro (USD 625 million) vay của Ngân hàng Phát triển châu Âu. Sân bay quốc tế Thủ Đô Bắc Kinh là sân bay nhộn nhịp nhất Trung Quốc, lượng khách tăng trưởng 2 con số kể từ năm 2003, là sân bay bận rộn nhất châu Á về lượng máy bay hoạt động, vượt lên trên Sân bay Quốc tế Tokyo. Về lượng khách, sân bay này bận rộn thứ 2 châu Á và bận rộn thứ 14 thế giới năm 2005 với tổng lượng khách phục vụ là 33.143.003, cao hơn Sân bay Quốc tế Hồng Kông. Sân bay này cách trung tâm Bắc Kinh 20 km về phía đông bắc. Sân bay có 3 nhà ga, trong đó nhà ga số 2 có thể phục vụ 20 máy bay đồng thời.

Khi tới ga số 2 ở Thủ đô Bắc Kinh, Trưởng phòng Mã Kiến Quốc 马見国 của Trung tâm giám định vật chứng Bộ Công an Trung Quốc (中国公安部物证鉴定中心, Zhōng guó gong an bù wù zhèng jiàn dìng zhōng xīn) đã ra đón và đưa thẳng về căn cứ đào tạo tại Tần Thành (秦城培训基地,Tần thành bồi huấn cơ địa, qín chéng péi xùn ji dì).

Đường từ sân bay về căn cứ:
-*-

[1] Trung Quốc không có Công ty Hàng không Trung Hoa China Airlines bởi thương hiệu này đã được Đài Loan đăng ký trước ( Taipei-Taiwan Taoyuan, 中華航空公司, Zhōnghuá Hángkōng gōngsī, Trung Hoa Hàng không Công ty, thường viết tắt là 華航, nghĩa tiếng Việt: Hoa Hàng) là hãng hàng không quốc gia của Trung Hoa Dân Quốc. Về danh nghĩa China Airlines không phải là công ty quốc doanh, nó trực thuộc Quỹ Phát triển Sự nghiệp Hàng không Trung Hoa (tiếng Anh: China Aviation Development Foundation, tiếng Hoa: 中華航空事業發展基金會) là quỹ của chính phủ Trung Hoa Dân Quốc. Chủ tịch Hội đồng Quản trị của hãng chịu trách nhiệm trước Viện Lập pháp, không giống như các công ty quốc doanh khác của Đài Loan. Hãng có trụ sở tại Sân bay quốc tế Đào Viên Đài Loan và Đài Bắc. Hãng thực hiện các tuyến bay đi châu Âu, Bắc Mỹ, và châu Đại Dương.
Công ty Hàng không Nam Phương Trung Quốc là một hãng hàng không có trụ sở tại Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Hãng hoạt động trên các tuyến nội địa và quốc tế, đây là hãng hàng không lớn nhất về quy mô đội tàu bay châu Á và là hãng lớn nhất Trung Quốc về số lượng khách vận chuyển. Trung tâm hoạt động chính của hãng tại sân bay quốc tế Bạch Vân Quảng Châu và sân bay quốc tế Thủ Đô Bắc Kinh, với các thành phố trọng điểm khác tại sân bay quốc tế Đào Tiên Thẩm Dương, sân bay quốc tế Urumqi Diwopu, sân bay quốc tế Bảo An Thâm Quyến, sân bay quốc tế Thiên Hà Vũ Hán, sân bay quốc tế Tân Trịnh Trịnh Châu và sân bay quốc tế Chu Thủy Tử Đại Liên. China Southern Airlines đã được IATA cấp chứng chứng nhận IOSA (Kiểm tra An toàn Vận hành IATA) do đã hãng có hoạt động đảm bảo an toàn.
Hãng China Southern Airlines có các chuyến bay quốc tế đi Amsterdam, Bangkok-Suvarnabhumi, Busan, Delhi, Dubai, Fukuoka, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hong Kong, Jakarta, Kathmandu, Kitakyushu, Kuala Lumpur, Laoag, Los Angeles, Luanda (mùa hè 2008), Manila, Melbourne, Moscow-Sheremetyevo (từ T10.2008), Nagoya-Centrair, Osaka-Kansai, Paris-Charles de Gaulle, Penang, Phnom Penh, Phuket, Saipan, Sapporo-Chitose, Sendai, Seoul-Incheon, Siem Reap, Singapore, Sydney, Tokyo-Narita, Vancouver (T7.2009), Vientaine và nội địa đi Beihai, Beijing,…, Zhengzhou, Zhuhai .
[2] "Bạch Vân" (白雲) có nghĩa là mây trắng lấy theo tên núi Bạch Vân kề bên.
Tiếp bài 3: "NHỮNG NGÀY Ở CĂNCỨ TÂN THÀNH"

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

CHÙM ẢNH THĂM TRUNG HOA

"Ảnh này tôi chụp, đưa lên, Ai xem xin nhớ chỉ nhìn chớ chê"!























Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Ngã ngửa về cái BỊT ĐẦU MỐI

Xưa nay, vốn hay đọc truyện trinh thám, ưa xem phim dã sử lại từng ngồi “nghe án” mấy chục năm nên cụm từ “bịt đầu mối” với tôi thường được hiểu (theo bệnh nghề nghiệp) là “che đậy, giấu đi khâu chính có tác dụng chi phối các khâu khác, từ đó có thể bưng bít sự thật hòng không cho người khác tìm hiểu toàn bộ sự việc hay ngăn chặn chứng cứ để giấu tội,...” (A: to cover up a clue, to suppress evidence; H:  掩盖线索, 压制证据 ).
Nhưng tôi đã nhầm và hiểu chưa kỹ!
Chuyển xẩy ra cách đây ngót chục năm, trên đường tôi từ Nam ra Bắc trong chuyến xuyên Việt lần thứ 3.
Hồi ấy cũng dịp cuối tháng 4 đầu tháng 5 nhưng vì chưa biết đến Fb nên chả có lưu trữ gì. Chỉ nhớ rằng;
Buổi sáng ngồi với bạn bè ở cửa Thuận An, vui chuyện được cô giáo Lưu đọc bài:
“Bà đi chăm cháu cho tau,
Khi nào Cu lớn thì mau mà về.
Mới đi từ sớm đến khuya,
Thằng cu đã nhớn vội về giỗ cu”.
Cả bọn cười rũ!.
Chia tay Huế, ra Quảng Trị. Trên đường đi vẫn rôm rả chuyện xứ mộng mơ thì lái xe bảo “đến Đông Hà rồi”! Bởi không định đi Lao Bảo nên dừng tại chợ này mua bán vài thứ làm quà! À chuyện không vào Lao Bảo là do đợt trước mua được cái áo Thái mấy chục, về nhà khoe vợ bảo: y chang áo Tầu 10 nghìn đầy trên chợ Cốc Lếu, nên cạch!
Vừa nghĩ tới đó, xe đã xịch ở cổng chợ. Chợ Đông Hà rất lộng gió, nhất là trên tầng và nghe thổ công bảo họ hay nói thách nên cảnh giác cao.
Mình cùng vài người leo lên tầng, vào khu thời trang định bụng chọn mấy thứ về nịnh đầm chút! Òn ã tiếng chào mời, cảnh chen chúc, một hồi thế nào ngõ quanh mình bị vây giữa mấy cô trẻ, xinh, diện, miệng liến thoắng: “mua của em đi anh”, “mua em đi anh”, “mua cái bịt đầu mối của em đi anh”,...
Nghe cụm từ quen quen, ngồ ngộ mình quay lại. Cô chủ hàng diện và trang điểm kỹ, cầm một bọc vừa vừa giơ tận mặt mình cất giọng rất dễ thương: “Hàng Thái đó anh, cái bịt đầu mối này bà xã hết chê luôn”...Chưa kịp phản ứng cô ta đã dúi vào tay cái túi và lôi ra mấy cái! Nhìn vào, mình phát hoảng, rụt tay lại và thế là túi hàng tung ra rơi xuống đất. Mấy cái soutien-gorge, Sous-vêtement khác giới (mà ở nhà bà xã tôi gọi là “đồ nhóc”) rơi ra, có cái còn mắc cả vào tay mình, lúng túng gãi tai nó lại treo lên đầu. Mọi người đua nhau cười, có chị đứng tuổi còn nói: “rơi hết bịt đầu mối của em nó ra rồi, anh mua đi”!
Nhìn quanh chả thấy bạn và lính mình đâu tôi đành đồng ý lấy, trả tiền rồi rút lẹ!
Về nhà, mãi 2 hôm sau mới dám khoe với vợ, bả cười bới, lọc ra đếm rồi bảo: “so với ngoài này rẻ chán, để Chủ Nhật về em cho mấy cô, mấy dì, mấy cháu chứ loại này bọn em không mặc được, bé quá!”
Thế đấy hóa ra BỊT ĐẦU MỐI còn có nghĩa là cái ấy chứ không chỉ trong việc án lý và cũng vì vậy CÁI ẤY CŨNG LÀ ĐẦU MỐI!

Đúng là “đi quãng đàng học sàng khôn”!

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2018

"TUYÊN NGÔN" KHI NHẬP MẠNG XÃ HỘI

I.
Ních nêm đầy đủ: “Trưởng bản Còi”,
Tuổi đời sắp tới ngưỡng Bẩy mươi.
Ký, Bình mấy việc ghi để nhớ,
Thơ, Phú dăm dòng viết lưu chơi.
Đồng tâm, kẻ lạ khen: hay đấy,
Nghịch nhĩ, người quen bảo: dở hơi.
Phần ta cứ viết và chia sẻ
Cho đến tận khi bút cụt ngòi!

II.
Mẹ sinh tôi vốn đã còi,
Phật, Trời ban lộc: “số người làm quan”,
Trải bao đói rét, gian nan,
Ngoi lên đến chức “Trưởng làng” như ai.
Ít tiền, giầu chí, lắm lời,
Thích đi ngắm cảnh, ưa người kết lưu.
Từ ngày giao ấn, nghỉ hưu,
“Lốc”, “Phây” buổi tối, “khuyển”, “ngưu” ban ngày.
Ngẫm ra từ bấy đến nay,
Khen chê đã lắm, dở hay cũng nhiều.
Dẫu cho “mực cạn, bút xiêu”,
Đã say nên phải đánh liều cứ chen!

- Lương Đức Mến, Kỷ niệm 5 năm ngày nhận sổ-

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2018

Về lệ GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG VÀO 10/3 ÂM LỊCH

Cứ mỗi lần đến ngày giỗ Tổ Hùng Vương, đồng bào cả nước lại nô nức “về nguồn”, tụ hội ở Đền Hùng, tưởng niệm Đức Quốc Tổ. Nhưng, ngày giỗ Tổ Hùng Vương có từ bao giờ? Tại sao lại chọn ngày mồng Mười tháng Ba làm ngày giỗ Tổ? Lệ ấy có từ bao giờ? và được chép ở đâu ?
Muốn rõ những vấn đề đó đọc lại Hùng Vương từ khảo (H: 雄王祠考, P: Historique du temple de Hùng-Vương) là tấm văn bi ở Đền Hùng được soạn vào năm 1940 và những bài viết của con thứ cụ Hoản là ông Bùi Ngọc Sách.
1. Người đề xuất lệ Giỗ Tổ Hùng Vương vào 10/3:
Đó là Tuần phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc (黎忠玉, 1867-1928). Ông sinh trưởng trong một gia đình nho học ở làng Liên Thành (xưa là ấp Tân Quảng), tổng Dương Minh, huyện Bình Dương, tỉnh Chợ Lớn (nay là phường 5 và phường 6, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh).
Năm 1883, sau khi học xong trường Hậu Bổ Cây Mai Sài Gòn (Collège dés Stagiaires), ông   ra đất Bắc làm việc trong chính quyền các cấp của triều đình nhà Nguyễn. Từ năm 1903 đến khi nghỉ hưu năm 1927 ông đã trải qua nhiều vị trí như:  Tuần phủ Bắc Ninh, Thương tá Vĩnh Yên, Án sát tỉnh Vĩnh Yên, sau đổi làm Án Sát tỉnh Phúc Yên, Án sát tỉnh Sơn Tây  rồi: Tuần phủ tỉnh Sơn Tây, tỉnh Bắc Giang, tỉnh Quảng Yên, Phú Thọ sau thăng Tổng đốc tỉnh Hải Dương, Tổng đốc tòa Thượng thẩm, Hà Nội. Ông còn là một trong những người sáng lập ra Hội Khai trí tiến đức và Hội Nam kỳ tương tế ở Hà Nội.
Trong đó có thời gian từ tháng 2-1915 đến tháng 1-1921 ông làm Tuần phủ tỉnh Phú Thọ. Trong những năm đó, ông Lê Trung Ngọc đã giành nhiều tâm huyết và công sức tu bổ, tôn tạo đền thờ vua Hùng. Đầu năm 1917, ông làm bản tấu trình với Bộ Lễ xin định lệ hàng năm lấy ngày 10 tháng 3 âm lịch để nhân dân cả nước kính tế Quốc Tổ Hùng Vương[1], trước một ngày so với ngày hội tế Thổ công, Thổ địa, Thổ kỳ của dân xã bản hạt, đồng thời cũng xin miễn trừ các khoản đóng góp của nhân dân địa phương vào các kỳ tế lễ mùa thu. Ngày 25 tháng 7 năm 1917 (Niên hiệu Khải Định năm thứ nhất), Bộ Lễ ban hành công văn phúc đáp và chính thức định lệ ngày quốc tế/quốc lễ - Giỗ Tổ Hùng Vương là ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch và quy định nghi thức, nghi lễ, lễ vật tế Tổ hàng năm[2].
Ngày 8-6-1928 (tức ngày 21 tháng 4 năm Mậu Thìn), ông mất tại Hà Nội, hưởng thọ 62 tuổi.
Tên tuổi Tuần phủ Lê Trung Ngọc được sử sách ghi chép với tư cách ông là tác giả của việc định lệ Giỗ Tổ Hùng Vương vào ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm[3]. Ông luôn được đánh giá là ông quan gần dân, thương dân, cảm thông với nỗi khổ của người nông dân; đồng thời ông cũng là người có tư tưởng tiến bộ, có ý thức tiết kiệm ngân khố của dân, của nước.
 2. Người soạn văn bia:
Văn bia do Bùi Ngọc Hoàn (裴玉環, 1888-1960) khi đó giữ chức Tham tri, hữu tuần phủ Phú Thọ soạn vào ngày 10 tháng 3 Canh Thìn, niên hiệu Bảo Đại thứ 15 triều Nguyễn (1940).
Cụ Hoàn thuộc dòng họ Bùi Ngọc vốn gốc Phất Lộc (thuộc Thái Bình nay) lên Thăng Long năm 1717 “vì ở gần biển nước triều, nạn nước lụt, thời nhà Lê tổ tiên nhà đồng tình dời lên ở thành Thăng Long” với Thủy tổ là Cụ Bùi Ngọc Lễ hiệu Đôn Phác, Tráng Sĩ tướng quân. Dòng này có ba đời theo triều Tây Sơn đánh giặc. Các thế hệ sau kế tiếp làm Võ tướng, cụ Bùi Ngọc Doãn là Vệ úy Tướng quân Doãn Tài nam theo vua Quang Trung đánh giặc Mãn Thanh giải phóng kinh thành Thăng Long, được phong đất ở bãi Bình Lao.
Cụ Bùi Ngọc Hoàn là Tham tri bộ Lễ, từng làm Chánh án tỉnh Phú Thọ, sau chuyển về Chánh án tỉnh Hà Đông và trở lại Phú Thọ được bổ nhiệm làm Tuần phủ. Chính dịp này ông đã soan lời văn trong Hùng Vương từ khảo.
Cũng năm đó (1940) ông mở gian hàng “Sản vật và con người Phú Thọ” tại nhà Đấu xảo Hà Nội giới thiệu nhiều đồ sản xuất từ mây, tre, nan.
Sau đó, vào năm 1941, Ông viết tựa cuốn sách viết về 3 vở kịch xưa nói về Tổ Hùng Vương (Động Đình hồ, Âu Cơ, và Hùng Duệ Vương) của Bác sĩ Henri Marcel[4] từng được công diễn tại Phú Thọ - Việt Trì - Hiền Lương - Chí Chủ - Tây Sơn. Lời tựa có đoạn “Sự tích Đức Hùng Vương, sử Việt viết rõ cả, nhưng chỉ người học thức là rõ được, còn phần đông dân thành thị và thôn quê đều mờ mịt cả, nếu không diễn ra câu ca vở kịch lưu truyền, sao cho người biết được ..”.
Trước lúc về hưu năm 1943, ông được thăng hàm Tổng đốc. Khi nghỉ ông về  nhà riêng 68 phố Jacquin Hà Nội. Sau đó chuyển về số 10 ngõ Tô Hoàng, phố Bạch Mai, Hà Nội vốn là một Từ đường của chi Bính dòng họ Bùi Ngọc[5].
Trong kháng chiến 9 năm ông là Nhân sỹ yêu nước. Năm 1946 là Hội Trưởng Hội Binh sĩ bị nạn (tiền thân của ngành Thương binh) khu Bạch Mai. Khi đi tản cư ông làm Hội trưởng Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (chủ tịch Mặt trận Tổ quốc) tỉnh Hà Nam (cùng lúc cụ Bùi Kỷ làm Hội trưởng Liên khu 3).
Ông tham gia Hội Hợp Thiện đứng ra thực hiện việc giúp đỡ, qui tập, xây dựng các khu mồ chôn cất đồng bào bị chết trong trận đói lịch sử năm Ất Dậu (1945) tại Hà Nội ở khu Quỳnh Lôi, Hà Nội.
3. Giá trị của văn bia:
Bài văn khảo cứu về Đền Hùng nguồn Quốc Tổ nước Việt là Hùng Vương, khi  An Dương Vương làm chủ đã lập “miếu thờ các vua ở núi Nghĩa Lĩnh” và cấp ruộng thờ cho con cháu ở “thôn Cổ Tích xã Hi Cương, là nơi Hùng Vương thứ 18 thăng hà”. Đồng thời cho biết: “Trước đây, ngày Quốc tế được tổ chức Xuân - Thu nhị kỳ. Năm Khải Định thứ 2 (1917) tuần phủ Phú Thọ là Lê Trung Ngọc có công văn xin Bộ lễ ấn định lấy ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch làm ngày  Quốc tế, tức trước ngày giỗ Tổ Hùng Vương một ngày, còn ngày giỗ (11-3) do dân sở tại làm tế lễ”[6]. Lệ này được định ra trong thời kỳ đền Hùng được đầu tư lớn nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam kéo dài tới 6 năm (1917-1922).
Đương thời đã nhận thấy văn bia “Hùng Vương từ khảo“ là văn bia khảo cứu tổng quát về sự tích đền Hùng hoàn chỉnh hơn cả. Bia không quên công đức của các vị Vua, quan cao cấp và các quan Tuần phủ tiền nhiệm, làm rõ lịch sử hình thành mảnh đất lập Đền cho đến ngày lập bia, lịch sử ấn định ngày giỗ Tổ 10 tháng ba và sự hình thành các công trình trên núi Nghĩa Lĩnh…
4. V tấm bia khắc bài văn:
Tấm văn bi được tạc bằng đá xanh, gắn trên tường Quan Cư ở bên trái đền Thượng bằng một lễ tế cấp quốc gia.
Bia có hai mặt một bên là chữ Hán (雄王祠考), mặt sau là chữ Pháp (Historique du temple de HUNG VUONG), phản ánh một vấn đề lịch sử là trong thời thuộc địa nửa phong kiến của Việt Nam: dùng chữ Hán và chữ Pháp làm văn tự chính thức trong nghi lễ .
 Khoảng 10 năm sau khi xuất hiện, Tấm văn bia bị mất mà không rõ nguyên do, chỉ còn lại chân bia.
Đầu những năm 2000, hậu duệ của Cụ Bùi Ngọc Hoản đã nỗ lực tìm kiếm nội dung đích thực để phục chế tấm bia. Kết quả là cháu ngoại cụ Bùi, ông Vũ Văn Sơn (con của bà Bùi Thị Tính, SN 172 phố Quán Thánh) đã tìm trong Viện nghiên cứu Hán Nôm và ngày 13/5/2008 được cung cấp hai bản rập văn bia mang số 18704 (chữ Hán) và 18705 (chữ Pháp) kèm bản phiên âm và bản dịch nghĩa “Khảo về Đền Hùng Vương“ do tiến sỹ Nguyễn Hữu Mùi dịch. Sau đó, ông Sơn còn tiếp tục tìm kiếm tư liệu liên quan xưa về sự thể khi đặt bia lưu trữ trong bảo tàng Louis Finot bên Pháp. Bộ hồ sơ này được bàn giao cho BQL Khu di tich Đền Hùng kèm ảnh cụ Tham tri Bùi ngọc Hoàn trong lễ phục Nam triều chụp cùng năm 1940, năm cụ được giao soạn bia.
Vào năm 2010, bia được khôi phục dựa trên nội dung bài minh văn mà các hậu duệ của soạn giả Bùi Ngọc Hoàn còn lưu trữ, mặt trước rập Hán văn và mặt sau Pháp văn.
5. Nội dung Văn bia:

HÁN VĂN
PHIÊN ÂM
DỊCH NGHĨA
雄王祠者我越最古史上鴻厖列王祀所也.
Hùng Vương từ giả ngã Việt tối cổ sử thượng Hồng Bàng liệt vương tự sở dã.
“Đền Hùng Vương là nơi thờ các vị vua cổ xưa nhất thời Hồng Bàng trong lịch sử nước Việt ta.
雄王第一(陽曆紀元前二八七九)都奉州(即今白鶴)國號文郎, 傳十八世, 皆稱雄王, 歷年二千六百二十有二. 據其地(陽曆紀元前二五八)存前王祀建廟於義嶺(即今雄山). 給祀田在羲崗社, 古蹟村, 乃雄王第十八升遐故地也.
Hùng Vương đệ nhất (dương lịch kỷ nguyên tiền nhị bát thất cửu) đô Phong Châu (tức kim Bạch Hạc) quốc hiệu Văn Lang, truyền thập bát thế, giai xưng Hùng Vương, lịch niên nhị thiên lục bách nhị thập hữu nhị. Hậu Thục An Dương Vương chiếm cứ kỳ địa (dương lịch kỷ nguyên tiền nhị ngũ bát) tồn tiền vương tự kiến miếu ư Nghĩa Lĩnh (tức kim Hùng sơn), cấp tự điền tại Hi Cương xã, Cổ Tích thôn, nãi Hùng Vương đệ thập bát thăng hà cố địa dã.
Hùng Vương thứ nhất (2879 TCN) định đô ở Phong Châu (nay là Bạch Hạc), đặt quốc hiệu là Văn Lang, truyền 18 đời, đều xưng là Hùng Vương, trải 2622 năm. Về sau, đất ấy bị Thục An Dương Vương chiếm (258), nay còn miếu thờ các vua ở núi Nghĩa Lĩnh (tức núi Hùng). Cấp tự điền ở thôn Cổ Tích xã Hi Cương, là nơi Hùng Vương thứ 18 thăng hà.

今上有陵在廟旁,嗣而肇富村民建別廟於山腰以奉之(即今中祠, 薇崗社又建別廟於山麓以奉之(即今下)歷朝列之祀典.
Kim thượng hữu lăng tại miếu bàng, tự nhi Triệu Phú thôn dân kiến biệt miếu ư sơn yêu dĩ phụng chi (tức kim Trung từ), Vi Cương xã hựu kiến biệt miếu ư sơn lộc dĩ phụng chi (tức kim Hạ từ), lịch triều liệt chi tự điển.

Nay còn lăng ở cạnh miếu, con cháu đời sau là cư dân ở thôn Triệu Phú xây miếu thờ ở lưng núi (nay là đền Trung), xã Vi Cương lại dựng thêm miếu dưới chân núi để thờ (đền Hạ), trải các triều đại được liệt vào điển chế thờ tự.
皇朝嗣德貳拾柒年(陽曆一八七四)三宣總督阮伯儀奉勅重修上祠;維新陸年((陽曆一九十二)延茂郡公黃高啟諮請政府給銀貳千元;富夀巡撫制光恩又奉行勸捐重修內寢外殿如今規式;啟定柒年(陽曆一九二二)增修山陵.
Hoàng triều Tự Đức nhị thập thất niên (dương lịch nhất bát thất tứ) Tam Tuyên tổng đốc Nguyễn Bá Nghi phụng sắc trùng tu Thượng từ; Duy Tân lục niên (dương lịch nhất cửu thập nhị) Diên Mậu quận công Hoàng Cao Khải tư thỉnh chính phủ cấp ngân nhị thiên nguyên; Phú Thọ tuần phủ Chế Quang Ân hựu phụng hành khuyển quyên trùng tu nội tẩm ngoại điện như kim quy thức; Khải Định nhị niên (dương lịch nhất cửu nhị nhị) tăng tu sơn lăng.
Tự Đức năm thứ 27 (1874), Tam Tuyên tổng đốc Nguyễn Bá Nghi vâng sắc chỉ trùng tu đền Thượng; Duy Tân năm thứ 6 (1912), Diên Mậu quận công Hoàng Cao Khải trình tờ tư xin 2000 quan tiền (để tu sửa); Phú Thọ tuần phủ Chế Quang Ân lại phụng mệnh khuyến khích quyên tiền để trùng tu nội tẩm cùng ngoại điện như thực trạng bây giờ; Khải Định năm thứ 7 (1922), tu sửa lăng trên đỉnh núi.
前者, 國祭以秋為期;啟定貳年(陽曆一九十七)富夀巡撫黎忠玉諮請禮部印定以逅年三月初拾為國祭日, 即雄王第十八忌前一日也. 忌日(三月十一)由所在民致祭.
Tiền giả, quốc tế dĩ thu vi kỳ; Khải Định nhị niên (dương lịch nhất cửu thập nhất) Phú Thọ tuần phủ Lê Trung Ngọc tư thỉnh Lễ bộ ấn định dĩ đệ niên tam nguyệt sơ thập vi quốc tế nhật, tức Hùng Vương đệ thập bát kị tiền nhất nhật dã. Kị nhật (tam nguyên thập nhật) do sở tại dân chí tế.
Trước đây quốc lễ cúng tế định kỳ vào mùa thu; Khải Định năm thứ 2 (1917), Phú Thọ tuần phủ Lê Trung Ngọc có tờ tư xin bộ Lễ cho ấn định lấy mồng 10 tháng 3 hàng năm làm ngày quốc tế. Ngày giỗ (11 tháng 3) thì do dân sở tại tự làm tế lễ.

山腰有古寺, 號天光寺, 嗣德三年(陽曆一八五十)刑部尚書阮登楷, 因舊重建;啟定玖年(陽曆一九二四)巡撫黎雲嵿又增補之.
Sơn yêu hữu cổ tự, hiệu Thiên Quang tự, Tự Đức tam niên (dương lịch nhất bát ngũ thập) Hình bộ thượng thư Nguyễn Đăng Giai, nhân cựu trùng kiến; Khải Định cửu niên (dương lịch nhất cửu nhị tứ) Tuần phủ Lê Vân Đỉnh hựu tăng bổ chi.
Lưng núi có ngôi chùa cổ Thiên Quang. Tự Đức năm thứ 3 (1850), Hình bộ thượng thư Nguyễn Đăng Giai nhân chùa cũ nên cho dựng lại; Khải Định năm thứ 9 (1924), tuần phủ Lê Vân Đỉnh lại cho tu bổ thêm.
山下南邊有廟. 號井廟祀公主二位:一是雄王第三世僊容公主(適楮童子);一是雄王第十八世玉花公主(適高山). 啟定柒年(陽曆一九二二)重修;保大拾年(陽曆一九三五)又增廣之.
Sơn hạ Nam biên hữu miếu, hiệu Tỉnh miếu tự công chúa nhị vị: Nhất thị Hùng Vương đệ tam thế Tiên Dung công chúa (thích Chử Đồng Tử); nhất thị Hùng Vương đệ thập bát thế Ngọc Hoa công chúa (thích Cao Sơn) Khải Định thất niên (dương lịch nhất cửu nhị nhị) trùng tu; Bảo Đại thập niên (dương lịch nhất cửu tam ngũ) hựu tăng quảng chi.
Chân núi phía Nam có miếu Giếng, thờ hai vị công chúa: Một là công chúa Tiên Dung con Hùng Vương thứ 3 (gả cho Chử Đồng Tử); một là công chúa Ngọc Hoa con Hùng Vương thứ 18 (gả cho thần núi Cao). Khải Định năm thứ 7 (1922) trùng tu. Bảo Đại năm thứ 10 (1935) lại xây rộng thêm.
皇阮保大拾五年庚辰三月初拾日. 參知領富夀巡撫裴玉環奉誌. ”
Hoàng Nguyễn Bảo Đại thập ngũ niên Canh Thìn tam nguyệt sơ thập nhật. Tham tri lĩnh Phú Thọ tuần phủ Bùi Ngọc Hoàn phụng chí.”
Mồng 10 tháng 3 Canh Thìn, Nguyễn triều Bảo Đại năm thứ 15 (1940). Tham tri lĩnh Phú Thọ tuần phủ Bùi Ngọc Hoàn vâng mệnh chép lại.”
雄王祠考
Hùng Vương từ khảo
Khảo đền Hùng Vương

-Những ngày đầu tháng 3 Mậu Tuất, Lương Đức Mến-



[1] Theo ông Tạ Trí Đại Trường trong "Thần Người Đất Việt" thì cái "Giỗ" này có nguồn gốc từ tục thờ thần linh bản địa và / hoặc thủ lĩnh địa phương trước kia, tới thời nhà Lê mới nâng tầm Hùng Vương lên thành 1 hệ thống ...
[2] Bia “Hùng miếu điển lệ bi” được Hội đồng kỷ niệm tỉnh Phú Thọ lập và dựng tại đền Thượng - Khu di tích Đền Hùng mùa xuân năm Quý Hợi, niên hiệu Khải Định năm thứ 8 (năm 1923), “Phụng sao văn bản của bộ Lễ định ngày Quốc tế” do Nguyễn Huy Vĩ, hiệu là Tây Đình cư sĩ, người tỉnh Hà Đông viết chữ đã ghi lại sự kiện lịch sử quan trọng này. Bia gồm 2 phần:
- Phần thứ nhất, chép lại công văn của Bộ Lễ triều Nguyễn, ngày 25 tháng Bảy năm Khải Định thứ nhất (1917) gửi Các vị ở phủ viện đường đại nhân tỉnh Phú Thọ cùng nhau tuân thủ điều sau đây: “Xã Hy Cương, phủ Lâm Thao có miếu lăng phụng thờ Hùng Vương ở núi Hùng, trải các năm, cả nước đến tế, thường lấy kì mùa thu, chọn vào ngày tốt làm lễ, chưa có việc định rõ ngày, mà tục lệ của dân xã đó lấy ngày Mười Một tháng Ba, kết hợp với thờ thổ kỳ, làm lễ riêng… (Sự thể này dẫn tới chỗ) thường hứng bất kì, hội họp cũng lãng phí theo sở thích, còn lòng thành thì bị kém đi… (Vì thế) cẩn thận định lại rằng, từ nay về sau, lấy ngày mồng Mười tháng Ba, lĩnh tiền chi vào việc công, phụng mệnh kính tế trước một ngày so với ngày hội tế của bản hạt, khiến nhân sĩ mọi miền đến đây có nơi chiêm bái…”.
- Phần thứ hai quy định “Đệ niên kỉ niệm hội nhật lễ nghi” (Nghi lễ ngày hội kỷ niệm hằng năm) với những câu như sau: “Nay phụng mệnh theo Bộ Lễ, chuẩn định ngày quốc tế tại miếu Tổ Hùng Vương là ngày mồng Mười tháng Ba. Chiều ngày mồng Chín tháng Ba hằng năm, các quan liệt hiến trong tỉnh, cùng các quan viên trong cả phủ huyện của tỉnh, đều phải mặc phẩm phục, tề tựu túc trực tại nhà công quán. Sáng hôm sau, tới miếu kính tế…”.
[3] Ngày 2/4/2007, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã thông qua Quyết định sửa đổi, bổ sung điều 73 Luật Lao động, cho người lao động được nghỉ hưởng nguyên lương nhân ngày Giỗ tổ Hùng Vương (mồng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm) để thực hiện tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, thờ cúng Tổ Tiên.
[4] Người công giáo Nam Bộ, vào làng Tây, khi đó phụ trách  Y tế Phú Thọ.
[5] Dòng Bùi Ngọc có từ đường tại 53 ngõ Phất Lộc, nay đặt tại số 2 phố Hàng Bạc trên một căn gác cổ kính.
[6] Theo ông Vũ Tiến Khôi - Chủ tịch Hội Sử học tỉnh Phú Thọ, thì: “Xưa kia, việc cúng Tổ được cử hành vào ngày 12 tháng 3 (âm lịch) hằng năm. Con cháu ở xa về làm giỗ trước một ngày, vào ngày 11 tháng 3 (âm lịch)... Nhà Nguyễn định lệ 5 năm mở hội lớn một lần (vào các năm thứ 5 và 10). Hội lớn, có quan triều đình về cúng tế cùng quan hàng tỉnh và người chủ tế địa phương cúng vào ngày 10 tháng 3 (âm lịch)”.

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...