Chào mừng bạn đã ghé thăm,
Chúc bạn Vui, Khỏe, quanh năm Phát tài.
Nỗi niềm muốn nối vòng dài,
Kết giao muôn nẻo, tương lai nối gần.
-*-
Địa chỉ: SN 328 đường Hoàng Liên, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
ĐT DĐ: 0913 089 230 - Email: luongducmen@gmail.com.

Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2018

"TUYÊN NGÔN" KHI NHẬP MẠNG XÃ HỘI

I.
Ních nêm đầy đủ: “Trưởng bản Còi”,
Tuổi đời sắp tới ngưỡng Bẩy mươi.
Ký, Bình mấy việc ghi để nhớ,
Thơ, Phú dăm dòng viết lưu chơi.
Đồng tâm, kẻ lạ khen: hay đấy,
Nghịch nhĩ, người quen bảo: dở hơi.
Phần ta cứ viết và chia sẻ
Cho đến tận khi bút cụt ngòi!

II.
Mẹ sinh tôi vốn đã còi,
Phật, Trời ban lộc: “số người làm quan”,
Trải bao đói rét, gian nan,
Ngoi lên đến chức “Trưởng làng” như ai.
Ít tiền, giầu chí, lắm lời,
Thích đi ngắm cảnh, ưa người kết lưu.
Từ ngày giao ấn, nghỉ hưu,
“Lốc”, “Phây” buổi tối, “khuyển”, “ngưu” ban ngày.
Ngẫm ra từ bấy đến nay,
Khen chê đã lắm, dở hay cũng nhiều.
Dẫu cho “mực cạn, bút xiêu”,
Đã say nên phải đánh liều cứ chen!

- Lương Đức Mến, Kỷ niệm 5 năm ngày nhận sổ-

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2018

Về lệ GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG VÀO 10/3 ÂM LỊCH

Cứ mỗi lần đến ngày giỗ Tổ Hùng Vương, đồng bào cả nước lại nô nức “về nguồn”, tụ hội ở Đền Hùng, tưởng niệm Đức Quốc Tổ. Nhưng, ngày giỗ Tổ Hùng Vương có từ bao giờ? Tại sao lại chọn ngày mồng Mười tháng Ba làm ngày giỗ Tổ? Lệ ấy có từ bao giờ? và được chép ở đâu ?
Muốn rõ những vấn đề đó đọc lại Hùng Vương từ khảo (H: 雄王祠考, P: Historique du temple de Hùng-Vương) là tấm văn bi ở Đền Hùng được soạn vào năm 1940 và những bài viết của con thứ cụ Hoản là ông Bùi Ngọc Sách.
1. Người đề xuất lệ Giỗ Tổ Hùng Vương vào 10/3:
Đó là Tuần phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc (黎忠玉, 1867-1928). Ông sinh trưởng trong một gia đình nho học ở làng Liên Thành (xưa là ấp Tân Quảng), tổng Dương Minh, huyện Bình Dương, tỉnh Chợ Lớn (nay là phường 5 và phường 6, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh).
Năm 1883, sau khi học xong trường Hậu Bổ Cây Mai Sài Gòn (Collège dés Stagiaires), ông   ra đất Bắc làm việc trong chính quyền các cấp của triều đình nhà Nguyễn. Từ năm 1903 đến khi nghỉ hưu năm 1927 ông đã trải qua nhiều vị trí như:  Tuần phủ Bắc Ninh, Thương tá Vĩnh Yên, Án sát tỉnh Vĩnh Yên, sau đổi làm Án Sát tỉnh Phúc Yên, Án sát tỉnh Sơn Tây  rồi: Tuần phủ tỉnh Sơn Tây, tỉnh Bắc Giang, tỉnh Quảng Yên, Phú Thọ sau thăng Tổng đốc tỉnh Hải Dương, Tổng đốc tòa Thượng thẩm, Hà Nội. Ông còn là một trong những người sáng lập ra Hội Khai trí tiến đức và Hội Nam kỳ tương tế ở Hà Nội.
Trong đó có thời gian từ tháng 2-1915 đến tháng 1-1921 ông làm Tuần phủ tỉnh Phú Thọ. Trong những năm đó, ông Lê Trung Ngọc đã giành nhiều tâm huyết và công sức tu bổ, tôn tạo đền thờ vua Hùng. Đầu năm 1917, ông làm bản tấu trình với Bộ Lễ xin định lệ hàng năm lấy ngày 10 tháng 3 âm lịch để nhân dân cả nước kính tế Quốc Tổ Hùng Vương[1], trước một ngày so với ngày hội tế Thổ công, Thổ địa, Thổ kỳ của dân xã bản hạt, đồng thời cũng xin miễn trừ các khoản đóng góp của nhân dân địa phương vào các kỳ tế lễ mùa thu. Ngày 25 tháng 7 năm 1917 (Niên hiệu Khải Định năm thứ nhất), Bộ Lễ ban hành công văn phúc đáp và chính thức định lệ ngày quốc tế/quốc lễ - Giỗ Tổ Hùng Vương là ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch và quy định nghi thức, nghi lễ, lễ vật tế Tổ hàng năm[2].
Ngày 8-6-1928 (tức ngày 21 tháng 4 năm Mậu Thìn), ông mất tại Hà Nội, hưởng thọ 62 tuổi.
Tên tuổi Tuần phủ Lê Trung Ngọc được sử sách ghi chép với tư cách ông là tác giả của việc định lệ Giỗ Tổ Hùng Vương vào ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm[3]. Ông luôn được đánh giá là ông quan gần dân, thương dân, cảm thông với nỗi khổ của người nông dân; đồng thời ông cũng là người có tư tưởng tiến bộ, có ý thức tiết kiệm ngân khố của dân, của nước.
 2. Người soạn văn bia:
Văn bia do Bùi Ngọc Hoàn (裴玉環, 1888-1960) khi đó giữ chức Tham tri, hữu tuần phủ Phú Thọ soạn vào ngày 10 tháng 3 Canh Thìn, niên hiệu Bảo Đại thứ 15 triều Nguyễn (1940).
Cụ Hoàn thuộc dòng họ Bùi Ngọc vốn gốc Phất Lộc (thuộc Thái Bình nay) lên Thăng Long năm 1717 “vì ở gần biển nước triều, nạn nước lụt, thời nhà Lê tổ tiên nhà đồng tình dời lên ở thành Thăng Long” với Thủy tổ là Cụ Bùi Ngọc Lễ hiệu Đôn Phác, Tráng Sĩ tướng quân. Dòng này có ba đời theo triều Tây Sơn đánh giặc. Các thế hệ sau kế tiếp làm Võ tướng, cụ Bùi Ngọc Doãn là Vệ úy Tướng quân Doãn Tài nam theo vua Quang Trung đánh giặc Mãn Thanh giải phóng kinh thành Thăng Long, được phong đất ở bãi Bình Lao.
Cụ Bùi Ngọc Hoàn là Tham tri bộ Lễ, từng làm Chánh án tỉnh Phú Thọ, sau chuyển về Chánh án tỉnh Hà Đông và trở lại Phú Thọ được bổ nhiệm làm Tuần phủ. Chính dịp này ông đã soan lời văn trong Hùng Vương từ khảo.
Cũng năm đó (1940) ông mở gian hàng “Sản vật và con người Phú Thọ” tại nhà Đấu xảo Hà Nội giới thiệu nhiều đồ sản xuất từ mây, tre, nan.
Sau đó, vào năm 1941, Ông viết tựa cuốn sách viết về 3 vở kịch xưa nói về Tổ Hùng Vương (Động Đình hồ, Âu Cơ, và Hùng Duệ Vương) của Bác sĩ Henri Marcel[4] từng được công diễn tại Phú Thọ - Việt Trì - Hiền Lương - Chí Chủ - Tây Sơn. Lời tựa có đoạn “Sự tích Đức Hùng Vương, sử Việt viết rõ cả, nhưng chỉ người học thức là rõ được, còn phần đông dân thành thị và thôn quê đều mờ mịt cả, nếu không diễn ra câu ca vở kịch lưu truyền, sao cho người biết được ..”.
Trước lúc về hưu năm 1943, ông được thăng hàm Tổng đốc. Khi nghỉ ông về  nhà riêng 68 phố Jacquin Hà Nội. Sau đó chuyển về số 10 ngõ Tô Hoàng, phố Bạch Mai, Hà Nội vốn là một Từ đường của chi Bính dòng họ Bùi Ngọc[5].
Trong kháng chiến 9 năm ông là Nhân sỹ yêu nước. Năm 1946 là Hội Trưởng Hội Binh sĩ bị nạn (tiền thân của ngành Thương binh) khu Bạch Mai. Khi đi tản cư ông làm Hội trưởng Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (chủ tịch Mặt trận Tổ quốc) tỉnh Hà Nam (cùng lúc cụ Bùi Kỷ làm Hội trưởng Liên khu 3).
Ông tham gia Hội Hợp Thiện đứng ra thực hiện việc giúp đỡ, qui tập, xây dựng các khu mồ chôn cất đồng bào bị chết trong trận đói lịch sử năm Ất Dậu (1945) tại Hà Nội ở khu Quỳnh Lôi, Hà Nội.
3. Giá trị của văn bia:
Bài văn khảo cứu về Đền Hùng nguồn Quốc Tổ nước Việt là Hùng Vương, khi  An Dương Vương làm chủ đã lập “miếu thờ các vua ở núi Nghĩa Lĩnh” và cấp ruộng thờ cho con cháu ở “thôn Cổ Tích xã Hi Cương, là nơi Hùng Vương thứ 18 thăng hà”. Đồng thời cho biết: “Trước đây, ngày Quốc tế được tổ chức Xuân - Thu nhị kỳ. Năm Khải Định thứ 2 (1917) tuần phủ Phú Thọ là Lê Trung Ngọc có công văn xin Bộ lễ ấn định lấy ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch làm ngày  Quốc tế, tức trước ngày giỗ Tổ Hùng Vương một ngày, còn ngày giỗ (11-3) do dân sở tại làm tế lễ”[6]. Lệ này được định ra trong thời kỳ đền Hùng được đầu tư lớn nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam kéo dài tới 6 năm (1917-1922).
Đương thời đã nhận thấy văn bia “Hùng Vương từ khảo“ là văn bia khảo cứu tổng quát về sự tích đền Hùng hoàn chỉnh hơn cả. Bia không quên công đức của các vị Vua, quan cao cấp và các quan Tuần phủ tiền nhiệm, làm rõ lịch sử hình thành mảnh đất lập Đền cho đến ngày lập bia, lịch sử ấn định ngày giỗ Tổ 10 tháng ba và sự hình thành các công trình trên núi Nghĩa Lĩnh…
4. V tấm bia khắc bài văn:
Tấm văn bi được tạc bằng đá xanh, gắn trên tường Quan Cư ở bên trái đền Thượng bằng một lễ tế cấp quốc gia.
Bia có hai mặt một bên là chữ Hán (雄王祠考), mặt sau là chữ Pháp (Historique du temple de HUNG VUONG), phản ánh một vấn đề lịch sử là trong thời thuộc địa nửa phong kiến của Việt Nam: dùng chữ Hán và chữ Pháp làm văn tự chính thức trong nghi lễ .
 Khoảng 10 năm sau khi xuất hiện, Tấm văn bia bị mất mà không rõ nguyên do, chỉ còn lại chân bia.
Đầu những năm 2000, hậu duệ của Cụ Bùi Ngọc Hoản đã nỗ lực tìm kiếm nội dung đích thực để phục chế tấm bia. Kết quả là cháu ngoại cụ Bùi, ông Vũ Văn Sơn (con của bà Bùi Thị Tính, SN 172 phố Quán Thánh) đã tìm trong Viện nghiên cứu Hán Nôm và ngày 13/5/2008 được cung cấp hai bản rập văn bia mang số 18704 (chữ Hán) và 18705 (chữ Pháp) kèm bản phiên âm và bản dịch nghĩa “Khảo về Đền Hùng Vương“ do tiến sỹ Nguyễn Hữu Mùi dịch. Sau đó, ông Sơn còn tiếp tục tìm kiếm tư liệu liên quan xưa về sự thể khi đặt bia lưu trữ trong bảo tàng Louis Finot bên Pháp. Bộ hồ sơ này được bàn giao cho BQL Khu di tich Đền Hùng kèm ảnh cụ Tham tri Bùi ngọc Hoàn trong lễ phục Nam triều chụp cùng năm 1940, năm cụ được giao soạn bia.
Vào năm 2010, bia được khôi phục dựa trên nội dung bài minh văn mà các hậu duệ của soạn giả Bùi Ngọc Hoàn còn lưu trữ, mặt trước rập Hán văn và mặt sau Pháp văn.
5. Nội dung Văn bia:

HÁN VĂN
PHIÊN ÂM
DỊCH NGHĨA
雄王祠者我越最古史上鴻厖列王祀所也.
Hùng Vương từ giả ngã Việt tối cổ sử thượng Hồng Bàng liệt vương tự sở dã.
“Đền Hùng Vương là nơi thờ các vị vua cổ xưa nhất thời Hồng Bàng trong lịch sử nước Việt ta.
雄王第一(陽曆紀元前二八七九)都奉州(即今白鶴)國號文郎, 傳十八世, 皆稱雄王, 歷年二千六百二十有二. 據其地(陽曆紀元前二五八)存前王祀建廟於義嶺(即今雄山). 給祀田在羲崗社, 古蹟村, 乃雄王第十八升遐故地也.
Hùng Vương đệ nhất (dương lịch kỷ nguyên tiền nhị bát thất cửu) đô Phong Châu (tức kim Bạch Hạc) quốc hiệu Văn Lang, truyền thập bát thế, giai xưng Hùng Vương, lịch niên nhị thiên lục bách nhị thập hữu nhị. Hậu Thục An Dương Vương chiếm cứ kỳ địa (dương lịch kỷ nguyên tiền nhị ngũ bát) tồn tiền vương tự kiến miếu ư Nghĩa Lĩnh (tức kim Hùng sơn), cấp tự điền tại Hi Cương xã, Cổ Tích thôn, nãi Hùng Vương đệ thập bát thăng hà cố địa dã.
Hùng Vương thứ nhất (2879 TCN) định đô ở Phong Châu (nay là Bạch Hạc), đặt quốc hiệu là Văn Lang, truyền 18 đời, đều xưng là Hùng Vương, trải 2622 năm. Về sau, đất ấy bị Thục An Dương Vương chiếm (258), nay còn miếu thờ các vua ở núi Nghĩa Lĩnh (tức núi Hùng). Cấp tự điền ở thôn Cổ Tích xã Hi Cương, là nơi Hùng Vương thứ 18 thăng hà.

今上有陵在廟旁,嗣而肇富村民建別廟於山腰以奉之(即今中祠, 薇崗社又建別廟於山麓以奉之(即今下)歷朝列之祀典.
Kim thượng hữu lăng tại miếu bàng, tự nhi Triệu Phú thôn dân kiến biệt miếu ư sơn yêu dĩ phụng chi (tức kim Trung từ), Vi Cương xã hựu kiến biệt miếu ư sơn lộc dĩ phụng chi (tức kim Hạ từ), lịch triều liệt chi tự điển.

Nay còn lăng ở cạnh miếu, con cháu đời sau là cư dân ở thôn Triệu Phú xây miếu thờ ở lưng núi (nay là đền Trung), xã Vi Cương lại dựng thêm miếu dưới chân núi để thờ (đền Hạ), trải các triều đại được liệt vào điển chế thờ tự.
皇朝嗣德貳拾柒年(陽曆一八七四)三宣總督阮伯儀奉勅重修上祠;維新陸年((陽曆一九十二)延茂郡公黃高啟諮請政府給銀貳千元;富夀巡撫制光恩又奉行勸捐重修內寢外殿如今規式;啟定柒年(陽曆一九二二)增修山陵.
Hoàng triều Tự Đức nhị thập thất niên (dương lịch nhất bát thất tứ) Tam Tuyên tổng đốc Nguyễn Bá Nghi phụng sắc trùng tu Thượng từ; Duy Tân lục niên (dương lịch nhất cửu thập nhị) Diên Mậu quận công Hoàng Cao Khải tư thỉnh chính phủ cấp ngân nhị thiên nguyên; Phú Thọ tuần phủ Chế Quang Ân hựu phụng hành khuyển quyên trùng tu nội tẩm ngoại điện như kim quy thức; Khải Định nhị niên (dương lịch nhất cửu nhị nhị) tăng tu sơn lăng.
Tự Đức năm thứ 27 (1874), Tam Tuyên tổng đốc Nguyễn Bá Nghi vâng sắc chỉ trùng tu đền Thượng; Duy Tân năm thứ 6 (1912), Diên Mậu quận công Hoàng Cao Khải trình tờ tư xin 2000 quan tiền (để tu sửa); Phú Thọ tuần phủ Chế Quang Ân lại phụng mệnh khuyến khích quyên tiền để trùng tu nội tẩm cùng ngoại điện như thực trạng bây giờ; Khải Định năm thứ 7 (1922), tu sửa lăng trên đỉnh núi.
前者, 國祭以秋為期;啟定貳年(陽曆一九十七)富夀巡撫黎忠玉諮請禮部印定以逅年三月初拾為國祭日, 即雄王第十八忌前一日也. 忌日(三月十一)由所在民致祭.
Tiền giả, quốc tế dĩ thu vi kỳ; Khải Định nhị niên (dương lịch nhất cửu thập nhất) Phú Thọ tuần phủ Lê Trung Ngọc tư thỉnh Lễ bộ ấn định dĩ đệ niên tam nguyệt sơ thập vi quốc tế nhật, tức Hùng Vương đệ thập bát kị tiền nhất nhật dã. Kị nhật (tam nguyên thập nhật) do sở tại dân chí tế.
Trước đây quốc lễ cúng tế định kỳ vào mùa thu; Khải Định năm thứ 2 (1917), Phú Thọ tuần phủ Lê Trung Ngọc có tờ tư xin bộ Lễ cho ấn định lấy mồng 10 tháng 3 hàng năm làm ngày quốc tế. Ngày giỗ (11 tháng 3) thì do dân sở tại tự làm tế lễ.

山腰有古寺, 號天光寺, 嗣德三年(陽曆一八五十)刑部尚書阮登楷, 因舊重建;啟定玖年(陽曆一九二四)巡撫黎雲嵿又增補之.
Sơn yêu hữu cổ tự, hiệu Thiên Quang tự, Tự Đức tam niên (dương lịch nhất bát ngũ thập) Hình bộ thượng thư Nguyễn Đăng Giai, nhân cựu trùng kiến; Khải Định cửu niên (dương lịch nhất cửu nhị tứ) Tuần phủ Lê Vân Đỉnh hựu tăng bổ chi.
Lưng núi có ngôi chùa cổ Thiên Quang. Tự Đức năm thứ 3 (1850), Hình bộ thượng thư Nguyễn Đăng Giai nhân chùa cũ nên cho dựng lại; Khải Định năm thứ 9 (1924), tuần phủ Lê Vân Đỉnh lại cho tu bổ thêm.
山下南邊有廟. 號井廟祀公主二位:一是雄王第三世僊容公主(適楮童子);一是雄王第十八世玉花公主(適高山). 啟定柒年(陽曆一九二二)重修;保大拾年(陽曆一九三五)又增廣之.
Sơn hạ Nam biên hữu miếu, hiệu Tỉnh miếu tự công chúa nhị vị: Nhất thị Hùng Vương đệ tam thế Tiên Dung công chúa (thích Chử Đồng Tử); nhất thị Hùng Vương đệ thập bát thế Ngọc Hoa công chúa (thích Cao Sơn) Khải Định thất niên (dương lịch nhất cửu nhị nhị) trùng tu; Bảo Đại thập niên (dương lịch nhất cửu tam ngũ) hựu tăng quảng chi.
Chân núi phía Nam có miếu Giếng, thờ hai vị công chúa: Một là công chúa Tiên Dung con Hùng Vương thứ 3 (gả cho Chử Đồng Tử); một là công chúa Ngọc Hoa con Hùng Vương thứ 18 (gả cho thần núi Cao). Khải Định năm thứ 7 (1922) trùng tu. Bảo Đại năm thứ 10 (1935) lại xây rộng thêm.
皇阮保大拾五年庚辰三月初拾日. 參知領富夀巡撫裴玉環奉誌. ”
Hoàng Nguyễn Bảo Đại thập ngũ niên Canh Thìn tam nguyệt sơ thập nhật. Tham tri lĩnh Phú Thọ tuần phủ Bùi Ngọc Hoàn phụng chí.”
Mồng 10 tháng 3 Canh Thìn, Nguyễn triều Bảo Đại năm thứ 15 (1940). Tham tri lĩnh Phú Thọ tuần phủ Bùi Ngọc Hoàn vâng mệnh chép lại.”
雄王祠考
Hùng Vương từ khảo
Khảo đền Hùng Vương

-Những ngày đầu tháng 3 Mậu Tuất, Lương Đức Mến-



[1] Theo ông Tạ Trí Đại Trường trong "Thần Người Đất Việt" thì cái "Giỗ" này có nguồn gốc từ tục thờ thần linh bản địa và / hoặc thủ lĩnh địa phương trước kia, tới thời nhà Lê mới nâng tầm Hùng Vương lên thành 1 hệ thống ...
[2] Bia “Hùng miếu điển lệ bi” được Hội đồng kỷ niệm tỉnh Phú Thọ lập và dựng tại đền Thượng - Khu di tích Đền Hùng mùa xuân năm Quý Hợi, niên hiệu Khải Định năm thứ 8 (năm 1923), “Phụng sao văn bản của bộ Lễ định ngày Quốc tế” do Nguyễn Huy Vĩ, hiệu là Tây Đình cư sĩ, người tỉnh Hà Đông viết chữ đã ghi lại sự kiện lịch sử quan trọng này. Bia gồm 2 phần:
- Phần thứ nhất, chép lại công văn của Bộ Lễ triều Nguyễn, ngày 25 tháng Bảy năm Khải Định thứ nhất (1917) gửi Các vị ở phủ viện đường đại nhân tỉnh Phú Thọ cùng nhau tuân thủ điều sau đây: “Xã Hy Cương, phủ Lâm Thao có miếu lăng phụng thờ Hùng Vương ở núi Hùng, trải các năm, cả nước đến tế, thường lấy kì mùa thu, chọn vào ngày tốt làm lễ, chưa có việc định rõ ngày, mà tục lệ của dân xã đó lấy ngày Mười Một tháng Ba, kết hợp với thờ thổ kỳ, làm lễ riêng… (Sự thể này dẫn tới chỗ) thường hứng bất kì, hội họp cũng lãng phí theo sở thích, còn lòng thành thì bị kém đi… (Vì thế) cẩn thận định lại rằng, từ nay về sau, lấy ngày mồng Mười tháng Ba, lĩnh tiền chi vào việc công, phụng mệnh kính tế trước một ngày so với ngày hội tế của bản hạt, khiến nhân sĩ mọi miền đến đây có nơi chiêm bái…”.
- Phần thứ hai quy định “Đệ niên kỉ niệm hội nhật lễ nghi” (Nghi lễ ngày hội kỷ niệm hằng năm) với những câu như sau: “Nay phụng mệnh theo Bộ Lễ, chuẩn định ngày quốc tế tại miếu Tổ Hùng Vương là ngày mồng Mười tháng Ba. Chiều ngày mồng Chín tháng Ba hằng năm, các quan liệt hiến trong tỉnh, cùng các quan viên trong cả phủ huyện của tỉnh, đều phải mặc phẩm phục, tề tựu túc trực tại nhà công quán. Sáng hôm sau, tới miếu kính tế…”.
[3] Ngày 2/4/2007, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã thông qua Quyết định sửa đổi, bổ sung điều 73 Luật Lao động, cho người lao động được nghỉ hưởng nguyên lương nhân ngày Giỗ tổ Hùng Vương (mồng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm) để thực hiện tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, thờ cúng Tổ Tiên.
[4] Người công giáo Nam Bộ, vào làng Tây, khi đó phụ trách  Y tế Phú Thọ.
[5] Dòng Bùi Ngọc có từ đường tại 53 ngõ Phất Lộc, nay đặt tại số 2 phố Hàng Bạc trên một căn gác cổ kính.
[6] Theo ông Vũ Tiến Khôi - Chủ tịch Hội Sử học tỉnh Phú Thọ, thì: “Xưa kia, việc cúng Tổ được cử hành vào ngày 12 tháng 3 (âm lịch) hằng năm. Con cháu ở xa về làm giỗ trước một ngày, vào ngày 11 tháng 3 (âm lịch)... Nhà Nguyễn định lệ 5 năm mở hội lớn một lần (vào các năm thứ 5 và 10). Hội lớn, có quan triều đình về cúng tế cùng quan hàng tỉnh và người chủ tế địa phương cúng vào ngày 10 tháng 3 (âm lịch)”.

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Tư, 4 tháng 4, 2018

CHUYỆN GIỜ MỚI KỂ

1. Tết Kỉ Mùi 1979, tôi không ngược Lào Cai mà về ăn Tết tại Nho Tống, Phú Minh, Phú Xuyên, Hà Tây ở nhà bạn học hồi Cấp 2 là Phùng Thế Hùng. Nhiều người tưởng tôi là rể mới !
2. Sáng Mồng 4 Tết (31/01/1979) chúng tôi lên Lục Nam, Hà Bắc lao động. Trời rét cắt da. Dân đây rất nghèo, nhưng đông con và tốt bụng.
Thứ bẩy  17/2 (21 tháng Giêng âm lịch) chúng tôi trở về trường tiếp tục học. Dọc đường thấy các xe tăng, pháo của các đơn vị bộ đội vẫn chưa tháo bát phủ!
Nhưng tới trường thì biết: “Chiến tranh biên giới đã nổ ra”!. Tôi nghĩ nhà mình cách BG 36 Km chắc TQ khó đánh đến nơi ! Sau này tôi mới biết sáng 17/02 phía TQ huy động hơn 15 vạn quân thuộc 2 Quân đoàn 13, 14 đồng loạt ttấn công trên toàn tuyến Biên giới Lào Cai. Và quân “bành trướng” đã tràn qua 10 Đồn Biên phòng, 64 xã, 7 khu phố, 4 thị trấn thuộc 4 huyện,  2 thị xã của Lào Cai. Riêng Bảo Thắng chỉ còn 5 xã là không bị quân TQ đánh[1].
3. Sau khi ở Lục Nam về, tối thứ Bẩy,  xuống Tây Mỗ chơi:  PTM và KL vẫn phần quà Tết, nghe HM thuật lại chuyến về, tôi cứ buồn cười mãi !. Chả là:  vì quá lo lắng tranh chỗ ngồi cho cụ mà “được” khen là “đanh đá”.
Mấy hôm sau, trong một tối sinh nhật KL (quê Kim Tân, Tx Lào Cai-Lớp A6),  tôi đã đọc tặng các bạn bài: 
Sinh em, mẹ gọi Kim Liên,
Chắc là kỉ niệm nhớ miền quê xa.
Mùa Đào em ngắm Sa Pa,
Còn anh Nam bộ ngắm hoa Mai Vàng.
Ngày sinh, Xuân đến ngỡ ngàng,
Lay lòng anh gọi:  Mai Vàng-Mai Liên.
Chính vì việc tôi đổi tên Kim Liên thành Mai Liên đã gây hiểu lầm cho KL và HM là tôi yêu Liên (ML được hiểu là Mến+ Liên).
4. Suốt tuần, chiều chiều tôi đạp xe ra Ga Hàng Cỏ thấy đồng bào lũ lượt bồng bế nhau sơ tán về quê tránh, gặp nhiều người quen nhưng chưa thấy người xóm tôi.
Đúng hôm Chủ nhật (24/2) tôi đi Phú Xuyên chơi  thì gia đình xuống tới Hà Nội,  bố vào Trường không gặp lại ra Ga ngay. Tối về, nghe anh Bé kể lại tôi đạp xe ra và gặp đủ cả nhà. Thì ra khi “quân bành trướng” tiến tới Phong Hải (20/02) cả Đội 7 nhà tôi đều về quê, không ai ở lại. Gia đình tôi đi bộ xuống Xuân Quang ở nhờ nhà anh Thiếp vài hôm thấy không yên lại đi nhờ xe bộ đội đến Phố Ràng, chuyển tiếp Yên Bái và xuôi tầu về Hà Nội. Nếu không có cuộc chiến chắc Thuộc-Nghị sẽ chuẩn bị cưới. Nhiều chuyện cười ra nước mắt. Đúng là chạy loạn: chẳng hiểu thế nào mà mẹ tôi cho vào thúng gánh cả hòn đá mài chạy bộ nhiều đoạn xuống tận đây. Ngay đêm đó gia đình đi tầu về quê Hải Phòng.
5. Khi chuẩn bị đi thực tập vòng II đến phút chót mới biết tôi đi Sài Gòn.
Xin mãi anh Phẳng C trưởng quản lý học viên mới đồng ý, tối 17/3 tôi ra ga Hàng Cỏ chen mua vé lên tầu về Hải Phòng, trên tầu gặp gia đình bà Minh cũng trên đường về quê.
Đến HP lúc 9 giờ, trời tối lại lạ đường (từ khi rời quê năm 1964 tôi mới trở lại một lần vào năm 1971) nhưng dựa vào trí nhớ tuổi thơ tôi vẫn đạp xe về đến làng được. Đường làng trơn, dò mãi cũng tới nhà anh Tiêm (họ Lương gần nhất của gia đình tôi tại quê). Bà ở xóm trong (họ Đặng), tôi vào thăm bà rồi sáng hôm sau vào Cốc Tràng (bên Ngoại) thăm Mẹ và các em. Tại đây mới biết Bố và em Thường đã ngược lên Lào Cai từ 2 hôm trước vì được tin TQ rút khỏi xã tôi từ 08/3.
Từ Hải Phòng, lên đến Hà Nội tôi vào ngay Phú Xuyên đưa  xe đạp cho Tràng (em con chú Dật) để đi thực tập tại Sài Gòn (thời gian này Tràng đang thực tập TCCN Bắc Thái tại Nhà máy đường Vạn Điểm gần nhà P.T. Hùng) rồi quay về Trường ngay trong tối 19, chậm 1 giờ !.
6. Ngày 21/3 đoàn SG là Đoàn rời trường sau cùng.Vì giận HM không ra tiễn tôi viết bài thơ “Hai bông Hồng”. Chúng tôi đi theo đường giao liên QĐ. Cả Đoàn 70 người ngồi chung một toa, ăn uống do ngành đường sắt lo:  ngay tại ga Hàng Cỏ chúng tôi được phát mỗi người một túi trị giá 5 đồng gồm nhiều loại bánh kẹo và có cả thuốc lá...
Lần đầu đi dọc đất nước thấy lắm cảnh lạ,  điều hay:  Khoai Diễn Châu,  Mía, Gà Đà Nẵng, chui hầm đèo Hải Vân[2], Bãi biển Sa Huỳnh....Buồn cười là khi mua “Đào lộn hột” ở ga Mường Mán (cây số 1500) cứ tưởng như  quả đào ngoài Bắc nhưng hột ở ngoài, song khi ăn không phải vậy, chỉ tội mấy khăn Muixoa nhựa dính không sao giặt sạch được; Khi ở Quảng Ngãi (ga gà) ăn cua bị “Tào Tháo đuổi” hầu hết, hú vía ! Tháp Chàm, Thuận Hải nóng ghê người và hoang vu quá! Qua Đồng Nai thì mát rượi cây cối.
7. Qua Xuân Hoà dấu tích chiến tranh còn khá rõ trên các bức tường. Chiều tối ngày thứ 3 đến Bình Triệu.Lần đầu biết thế nào là "con phe" đất đô thành. Bám dai hỏi đủ thứ:   tem lương thực,  thuốc lá, sữa...xua chả đi. Sau đó xe đưa thẳng về 520 Nguyễn Tri Phương thuộc quận 10 (Cơ sở bổ túc SQ quân y cũ của Nguỵ), gần kề QYV 115. Đúng ngày hôm sau (25/3) người Hoa ở Chợ Lớn tung tin: tiền 50 đồng mất giá làm hàng hoá cứ leo thang hoài (hồi đó trong Nam sài tiền lẻ cả tiền nguỵ lẫn tiền giải phóng, đổi không quen lắm lúc khá phiền !)
Nhà trường  chia bọn tôi làm 4 nhóm thực tập ở:  BV Chợ rẫy, QYV 117 (Cần thơ), QYV 115 và QYV 175. Tôi về 175 trong nhóm 20 người thực tập Nội.
8. QYV 175 chính là Tổng y viện Cộng hoà cũ nằm trên đường Võ Duy Nghi nối dài thuộc Quận Gò Vấp. Chúng tôi ở Cư xá SV cũ, 2 người một phòng, khá rộng. Hồi này Nhà nước đang khó khăn, ăn toàn “bo bo” (mì hạt) với bì lợn. Đói! Hàng quà sẵn nhưng hổng tiền!
Nhiều chuyện hiểu lầm tức cười. Quen uống rượu với lạc, chúng tôi gọi lạc rang., chủ quan hỏi :   lạc đỏ hay trắng, bọn tôi bảo gì cũng được.Thế là mấy cô túa ra vây liền.Về sau dân bản địa cho biết:  “lạc đỏ chỉ gái tơ, lạc trắng chỉ gái xề”. Hú hồn !
So với các BV ngoài Bắc hồi đó thì trang bị của 175 khá hơn, mặt bệnh cũng phong phú. Hồi này biên giới Tây Nam căng nên Thương binh về luôn.Ngoài 175 chúng tôi còn được thực tập ở BV Gò Vấp về Sản khoa và BV Chợ Rẫy về Cận lâm sàng.Cùng một đất nước mà nhiều từ đọc  mãi không hiểu (Ví dụ:  Uốn ván gọi là Phong đòn gánh). Một hôm trực Sản có một ca tuyến dưới chuyển lên giới thiệu là:  Nghi xảy thai Doté ! tôi lục trí nhớ, tra từ điển mãi chả hiểu Doté là bệnh hay hội chứng gì ! (vì Các Bs trong đó hay dùng chữ Pháp nên tôi ngỡ đó là HC gì mà mình chưa rõ) Hỏi một NHS trực mới hay đó là chữ thuần Việt, viết liền.Nó là :  do té = do ngã !
Chính dịp này HM cũng vô Nha trang thực tập (rời HN sau tôi 1 tháng). Nhưng vì thời gian và ngân sách nên tôi không thể ra thăm, với lại hồi đó chúng tôi chưa yêu nhau. Bù lại tôi cũng đã đi Vườn Lái Thiêu, Dinh Độc lập, Sở thú, Chợ Lớn....Cũng có lắm kỉ niệm hay. Nhưng nhớ nhất là chuyện với cô y tá Minh ở Khoa XN, chính vì bài sau mà suýt nữa tôi bị tổ Đảng "cắt đối tượng" !
“Ai làm chiếc nón quai thao,
Để cho anh thấy cô nào cũng xinh”.
Mùa hè che mái tóc xanh,
Chao tay nón quạt lay thành gió ngân.
Đường làng bước dưới mưa Xuân,
Tay nghiêng che nón, tay cầm trong tay.
Ước gì là một áng mây,
Lợp nên chiếc nón suốt ngày bên em.
(Cư xá Sinh viên-Võ Duy Nghi nối dài-Gò Vấp 8/1979)
Thời kì này thương binh từ CPC về nhiều nên khá bận việc. Bù lại các Ytá, Hộ lý ở đây khá "nhiệt tình" và quí bọn tôi.Xuân Lan, người Huế mết đào Dũng,  Nguyệt "vây" Chử Thành... làm nhiều khi bọn tôi phải xơi quả và tiếp khách...oan !.
9. Theo KH thì thực tập 4 tháng.Nhưng vì đoàn Biên giới phía Bắc phải theo “chiến dịch” nên bọn tôi được lệnh Kéo dài thời gian!
Chủ nhật không trực là bọn tôi đi chơi:  Bến Thành, Sở Thú, Chợ Lớn, Dinh, Lái Thiêu...Qua thư từ tôi biết gia đình đã trở lại Lào Cai, mẹ gửi cho tôi 200đ.
Tới tháng 11 mới nhận lệnh Thi hết vòng và ra Bắc học tiếp. Vì cạn tiền nên chả mấy ai mua đồ nhiều ! QYV tổ chức chia tay khá cảm động !
10. Chiều 24/11/1979  Trường đưa xe từ Gò Vấp ra ga Hố Nai.
Qua 9 tháng hầu hết CBNV QYV 175 đều rất quí bọn tôi, nên  có nhiều người tiễn ra tận ga.Trong thời gian chờ tầu mới biết nơi đây toàn dân "đuổi Pháp quá đà" vô Nam từ 1954.
11. Đường ra kém hào hứng và phục vụ của giao liên quân đội cũng kém hơn lượt vào. Đến Đà Nẵng tầu bị bọn trộm đột,  đoàn tôi mất một ít. 5 giờ sáng 27 tới HN. Lúc này HN đã rét. Chờ 8 giờ Trường đưa xe ra đón,  tôi để đồ đạc cho Chi quản còn mình ngược ngay chuyến tầu trưa  lên Lào Cai.
Về tới nhà, sau 5 ngày tầu xe người phờ phạc hẳn và  mới biết bố tôi vừa ra viện (phù). Sau Chiến tranh biên giới nơi đây toàn Bộ đội. Nhà tôi bị cháy, chưa làm lại, ở tạm nhà cũ xưa. Lúc này túi tôi còn vừa đúng 3 đồng rưỡi.
Kiểm đồ mua từ Sài Gòn ra thấy cái áo mút mua cho út Luận khi xem ở chợ Bến Thành rõ là dài sau bây giờ như áo Búp bê, túi cá mực thì bên trong toàn cá tạp, chỉ 2 lớp ngoài là mực; cau khô mua cho cô thì cứng như đá!
- Lương Đức Mến, sát Tết Thanh Minh 2018-



[1] Chuyện này có bài riêng.
[2] Việc xây dựng con đường sắt xuyên Đông Dương hoàn thành ngày 1 tháng 10 năm 1936 và từ Hà Nội đến Sài Gòn dài 1.730 km (sau năm 1975 ga Sài Gòn dời về ga Hòa Hưng và ga này đổi tên ga thành ga Sài Gòn nên chiều dài chỉ còn 1.726 km).
Đoạn qua đèo Hải Vân rất quanh co nhưng vẫn có những hầm nhỏ. Hai bên chân đèo có ga Hải Vân Bắc, Hải Vân Nam là trạm đầu máy phụ (hơi nước) giúp đẩy tàu lên/xuống đèo.

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Tư, 7 tháng 3, 2018

Thiết thực cho ngày Mồng Tám tháng Ba

Ngày mai Mồng Tám tháng Ba,
Nghĩ hoài chưa kiếm được quà chi đây?
Tặng tiền? Em một ví đầy,
(Anh vừa dòm thấy mới ngày hôm qua)
Chân tình, em chẳng thích hoa
(Bởi mai héo úa thế là uổng thôi).
Vi vu khắp chốn, mọi nơi,
Lại e quá sức, cố chòi làm chi!
Ghé tai, mới khẽ thầm thì:
Hay là ngũ cốc, Chân quê lại bền !
Ửng hồng đôi má làm duyên:
Anh sao khéo chọn, tặng liền ngay đi!!!

(Ý thơ nhặt của bạn Phây,
Anh này đi mượn hết ngày hoàn nguyên).
- Lương Đức Mến, Lào Cai ngày 07/3/2018-

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Hai, 12 tháng 2, 2018

NGHỈ HƯU TÔI LẠI THÊM GIẦU

Hưu nhân ai cũng than NGHÈO,
Riêng tôi TIỀN tháng đủ tiêu... bốn tuần.
Trên đầu BẠC phủ thay khăn,
Ngoài răng VÀNG bọc chẳng cần giấu đi.
Trong thận ĐÁ QUÝ thiếu chi,
Dưới BẤT ĐỘNG sản cất đi không xài.
Thịt ĂN thì chẳng cần nhai,
Rượu UỐNG bữa chỉ một vài ba ly.
Trưa SAY, chiều NGỦ ai bì
Đêm NẰM, dậy THẢI đến ba, bốn lần.
Ngày ngày dạo mạng lên gân,
Chuyện xa thì NHỚ, chuyện gần lại QUÊN.

Nghỉ rồi thêm chức ỦY VIÊN
Mấy Câu lạc bộ CHẲNG QUYỀN, KHÔNG LƯƠNG.
Lại hay TRÍCH CÚ TẦM CHƯƠNG,
Tự mình XUẤT BẢN trên tường Búc Phây!
Hay đi DU LỊCH đó đây,
Loanh quanh NGÕ HẸP mỗi ngày mấy phiên.

NÓI ra chỉ SỢ thêm PHIỀN,
LÀM rồi người bảo rằng "ĐIÊN", kệ đời.
Khoe GIẦU, bảo ĐỦ là tôi,
Kêu NGHÈO, kể KHỔ mặc người, tôi NGHE.

-Lương Đức Mến, Đặng Xá 11/7/2016

Sửa lại, Lào Cai cận Tết Mậu Tuất 2018-

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Sáu, 29 tháng 9, 2017

Tìm hiểu CHỮ "THỌ"

Nhân chuẩn bị đến ngày QUỐC TẾ NGƯỜI CAO TUỔI (01/10)[1], thử bàn về chữ “THỌ” viết bởi Hán tự ().
Tự điển Thiều Chửu có tới 5 chữ ghi âm Thọ, là: , ,寿, ,  trong đó 3 chữ đầu đều thuộc bộ Sĩ, có nghĩa là “lâu dài, sống lâu”, chữ  bộ Trảo  là “chịu nhận lấy, vâng mệnh”, chữ thứ năm thuộc bộ Mộc, có nghĩa là “cây, gây dựng”. Ta nghiên cứu chữ “thọ” đầu tiên : .
1. Về chữ THỌ:
1.1. Đại cương:
Chữ Thọ  có 14 nét thuộc bộ sĩ  ; Về ngũ hành, nó thuộc Kim ; có thiết âm là 殖酉切 (thực dậu thiết) và có code là U+58FD.
1.2. Cấu thành:
 Ngoài bộ Sĩ , chữ  thêm 4 yếu tố hợp thành là các chữ Nhị , Công , Khẩu  và Thốn . Ý nghĩa như sau:
- Điều đầu tiên muốn sống lâu thì bộ óc luôn luôn phải suy nghĩ, tìm tòi sáng tạo bởi chữ Sĩ  nghĩa đen là học trò, hiểu rộng ra là kiến thức. Người già càng lắm kinh nghiệm và ngày nay, có quan điểm xây dựng một xã hội học tập và học tập suốt đời bởi tri thức luôn thay đổi, cần được cập nhật.
- Chữ Nhị , nghĩa đen là hai, hiểu rộng ra là quan hệ giao lưu qua lại. Người già cần thường xuyên giao tiếp, giúp nâng cao năng lực tư duy, giải tỏa những mắc mớ làm cho đầu óc thanh thản, tăng cường giao lưu để có nhiều bạn mới, có cơ hội gặp nhau thường xuyên, sống vui vẻ, có ích. Như thế sẽ ít bệnh tật hơn.
- Chữ Công , nghĩa là vận động. Người già không nên trơ, ì mà cần vận động theo sức lực của mình, giúp cho mạch máu được đàn hồi, không xơ cứng. Khi đó máu dễ lưu thông đến nuôi các tế bào trong cơ thể, nhất là bộ não sẽ không bị “lão hóa” nhanh. Thể dục dưỡng sinh chính là nhằm mục đích này. Nhà Phật cho rằng không phiền não, không sát sanh hại vật, phải làm nhiều việc Phúc đức thì tuổi thọ mới tăng.
- Chữ Khẩu , nghĩa là miệng. Ở đây thể hiện điều ăn, tiếng nói của người già,  bao hàm ý “ăn bớt bát, nói bớt lời” hay câu “tai họa từ mồm mà ra, bệnh tật từ mồm mà vào”. Muốn được THỌ thì ăn uống phải điều độ, hạn chế thịt cá vì khó tiêu, không nên ăn no, tuyệt đối không dùng những chất có độc hại nguy hiểm như ma tuý, hạn chế bia rượu, thuốc lá...Lời người già rất quan trọng, thường được mọi người lưu tâm, coi trọng nghe theo nên không phát ngôn lung tung.
- Chữ cuối cùng là chữ Thốn  còn đọc là “tấc”, gồm 10 phân, nghĩa rộng là sự đo đếm, là mực thước, là định lượng các hoạt động ở một mức thích hợp cho từng người chứ không phải cho tất cả mọi người. Tuổi thọ càng tăng thì càng phải làm người mẫu mực trong gia đình và dòng họ để giáo dục con cháu nên người.
1.3. Hạn chế của chữ giản thể:
Từ 1950s Trung Quốc đại lục sử dụng chữ giản thể 简体 nên chữ THỌ bằng Hán tự từ 14 nét  (4 chữ ghép lại như đã viết ở trên), có code: U+58FD chỉ còn 7 nét 寿 (3 nét của bộ “thốn” và 4 nét của chữ “phong” ) và mang code: U+5BFF! Như vậy chữ “thọ” đã:
- Mất đi 7 nét nói vui là giảm đi một nửa số tuổi! Chữ “thọ” giản thể 寿 bị ăn bớt nét cũng như cắt giảm tuổi thọ người ta vậy nên khi mừng thọ ai, tặng chữ người phải viết kiểu chữ phồn thế đủ 14 nét !
- Chữ này thuộc dạng hội ý 会意nguyên gốc chữ  thể hiện người già (thọ) là người “hiểu rộng, nhiều kinh nghiệm”, cần giao lưu, vận động, phát ngôn,...muốn sống thọ, phải học, phải làm việc, phải trao đổi bằng lời nói, phải biết tính toán... mới được gọi là “thọ”! Khi chuyển sang chữ giản thể ý nghĩa đó mất đi, chữ 寿 chỉ người cao tuổi trở thành người “đo đếm, cân nhắc”, có thể là những người không chịu học, không làm việc, suy nghĩ...Như thế sao gọi là “thọ” được!   
- Nghĩa cơ bản là lâu dài, có tuổi; nó còn dùng để chỉ ngày sinh hay “Chúc”, đời xưa đem vàng lụa tặng cho người tôn kính hay lấy rượu mà chuốc. Do vậy có câu “Thọ khảo vĩnh trường” (壽考永長, Già cả sống rất lâu dài), mở rộng ra có câu “Thọ quốc mạch” (壽國脈, Quốc gia trường tồn)
- Từ đó sinh ra “Thọ chung” (H: 壽終,  A: To die, P: Mourir) là hết tuổi thọ, tức chết; “Thọ đường” (H: 壽堂, A: The coffin, P: Le cerceuil) là nhà giành cho người già, tức áo quan sắm sẵn cho người cao tuổi
Vì ý nghĩa đó nên chữ “Thọ” xuất hiện nhiều trong kiến trúc từ cung điện, tư gia của các bậc vương giả cho tới những ngôi nhà bình dân.
Những cách điệu chữ Thọ vuông hay tròn được xử lý qua những đường thẳng, cong, khỏe mạnh, cân xứng cho hiệu quả thẩm mỹ cao nhất khi được phóng lớn trên các bức tường hoặc cửa sổ. Những chữ Thọ uốn lượn cầu kỳ theo mô tuýp trang trí vân mây, hoa lá... tỏ ra thích hợp hơn trong các điêu khắc, chạm trổ trên gỗ hoặc đồng. Những chi tiết nhỏ hơn như đèn tường, chiếc rèm hay những vỏ gối cũng có sự hiện diện của chữ Thọ.
Muốn khôn phải học suốt đời, ()
Đừng sống khép kín luôn người có đôi. ()
Miệng ăn, nói phải giữ lời, ()
Lại luôn vận động nên người dẻo dai. ()
Sống mực thước, chẳng đơn sai, ()
Ấy là chữ Thọ, muôn đời ước mong. ().

- Lương Đức Mến, 29/9/2017-



[1] * Ngày 14 tháng 12 năm 1990 Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc đã bỏ phiếu tán thành việc lấy ngày 1 tháng 10 hàng năm làm ngày quốc tế người cao tuổi, như đã được ghi trong Nghị quyết 45/106. Ngày quốc tế người cao tuổi đầu tiên được tiến hành vào ngày 01/10/1991.
* Sau khi bôn ba, ngày 28/1/1941 lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng ViệtNam. Người đã thành lập Việt Nam độc lập đồng minh Hội (Mặt trận Việt Minh) vào ngày 19/5/1941. Sau đó, ngày 6/6/1941, Người viết bài “Kính cáo đồng bào”, kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian, cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng” và trong đó, Người đã đặt người cao tuổi lên vị trí hàng đầu trong các tầng lớp nhân dân. Làm theo lời kêu gọi đó, các thế hệ người cao tuổi Việt Nam đã đem hết trí tuệ, tài năng và cả xương máu của mình vào cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc, toàn vẹn lãnh thổ và thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Người cao tuổi hoàn toàn xứng đáng với 18 chữ vàng của BCH Trung ương Đảng tặng: “Tuổi cao chí càng cao, nêu gương sáng vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Với ý nghĩa to lớn và sâu sắc đó của lời kêu gọi “Kính cáo đồng bào”, để phát huy vai trò và truyền thống của người cao tuổi, động viên người cao tuổi vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ngày 26 tháng 3 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định lấy ngày 06 tháng 6 hàng năm là “Ngày truyền thống người cao tuổi Việt Nam”.
Điều 6 Luật Người cao tuổi Số: 39/2009/QH12 quy định: Ngày 06 tháng 6 hằng năm là Ngày người cao tuổi Việt Nam.

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...