Chào mừng bạn đã ghé thăm,
Chúc bạn Vui, Khỏe, quanh năm Phát tài.
Nỗi niềm muốn nối vòng dài,
Kết giao muôn nẻo, tương lai nối gần.
-*-
Địa chỉ: SN 328 đường Hoàng Liên, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
ĐT DĐ: 0913 089 230 - Email: luongducmen@gmail.com.

Thứ Sáu, ngày 22 tháng 7 năm 2016

ĐÀN ÔNG THẬM ĐẠI CHỦ QUAN

Tập tành học Cụ Bút Tre,
Chép chuyện thiên hạ, răn dè người trong.

Trời ban cho cánh đàn ông,
Đến khi khôn nhớn mọc lông quanh mồm.

Nghe đồn hứng dậy lòng tham:
Vượt rừng bới quặng, đào tìm vận son.
Ngày về vít số bon bon,
Túi quần chèn chặt hai hòn đá quy. (quý)
Khi xuôi qua đoạn sông Đà,
Gặp nạn Bắc Cạn trên phà sông Gianh.
Tay chân thì vẫn nguyên lành,
"Cần tăng dân số" dập dành bị han.

Tới nhà, sau chuyện hân hoan,
Đang cơn buồn ngủ vợ bàn luật chơi:
“Cầm dao phải nắm đằng chuôi,
Giữ anh phải giữ cái B...ụng của anh!
Bao đêm em ngủ một mình,
Anh về em quyết tanh bành một phen!
Ruộng nhà hoang bỏ liên miên,
Sao anh chẳng khoán người bên giúp cày?”

Nghe xong, mắt thấy cay cay:
Đã vơi vãi đạn, chuyện này tính sao?

Mấy ngày tu hãm trong rừng,
Về xuôi lại gặp tương, gừng, tái Dê.
Bao nhiêu tích tụ định về

Vui cùng với vợ trút ra nên nghèo!

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Bảy, ngày 19 tháng 3 năm 2016

Người TRUNG QUỐC KHÔNG NHỚ LỊCH SỬ

(Bản đồ lấy trên In)
Lâu nay, nhiều người khi đổ lỗi cho giáo dục Việt Nam cứ bảo dân ta hiểu lịch sử Trung Quốc hơn lịch sử nước nhà!
Điều đó có phần đúng nhưng đó là lịch sử qua phim dã sử mà phần lớn theo sự nhào lặn của người viết tiểu thuyết kiếm hiệp nổi tiếng là Kim Dung 金庸. Đó không phải lịch sử, dù là sử Việt, sử Tầu hay sử  khu vực. Xin đơn cử vài việc mà tôi “mục kích sở thị” và chiêm nghiệm :
1. Cố tình quên những triều đại đã xâm lược Đại Việt và bị đánh bại:
Khi trao đổi, nếu có nói đến những trang đen trong lịch sử bang giao giữa Hán và Việt, người Trung Quốc thường chỉ nhắc đến những cuộc tấn công của quan quân nhà Nguyên (元朝, 1271–1368), nhà Thanh (清朝, 1644 – 1912) từng bị quân dân Đại Việt (大越, 1054-1400 và 1428-1804) đánh cho tơi tả buộc phải rút quân về nước trong các năm: 1258, 1285, 1288 và 1789. Chủ ý của họ là đó là các triều đại không phải do người Hán cai trị và ta chỉ có thế chống lại những triều đại đó.
Nhưng họ quên rằng lãnh tụ của cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn 起義藍山 là Thái tổ Lê Lợi (黎利, 1385-1433) đã đại thắng, đuổi quân nhà Minh (明朝, 1368–1644) về nước sau 20 năm đô hộ nước ta (安南屬明時期, 1407–1427). Nhà Minh chính là triều đại của người Hán do Đại Minh Thái Tổ Cao Hoàng đế 大明太祖高皇帝 Chu Nguyên Chương (朱元璋, 1328-1398) lập ra.
Ngoài ra phải kể đến vài lần xưa kia quân dân ta đánh đuổi quân Nam Hán (南漢, 917-971) trong trận Bạch Đằng 白藤江之 năm 938, quân Tống (宋朝, 960–1279) ở trận Như Nguyệt năm 1077 cuối cuộc Chiến Tống - Việt (宋越熙宁战争, 1075-1077)…
Sử sách Trung Quốc có chép (dù thiên lệch nhiều) những chuyện đó. Nhưng sao người Tầu mau quên thế, hay họ cố tình quên. Còn người Việt, chúng ta phải nhớ!
2. Nhiều người không biết đến người anh hùng áo vải từng lật đổ một triều đại nhà Minh hùng mạnh:
Trong dịp tham dự lớp tập huấn chuyên môn tại tại Số 3 Tần Thành 秦城3 thuộc Quận Xương Bình 昌平区, thủ đo Bắc Kinh 北京市 từ ngày 26/5/ đến 11/6/2009 chúng tôi được đưa đi thăm Thập Tam Lăng 明十三陵. Đây là quần thể lăng mộ 13 vua đời Minh (1368-1644), cách Bắc Kinh 50 km về phía Tây Bắc.
Trên đường đi thấy cạnh  xa lộ có một pho tượng lớn hình người cưỡi ngựa rất uy nghi, hỏi hướng dẫn viên tượng ai, cô ấy lặng thinh. Đến gần, người lái xe bảo đó là tượng tướng quân Lý Tự Thành. Nhưng hỏi ông này là ai thì cả hướng dẫn viên, lái xe và phiên dịch đều im lặng.
Lục lại trí nhớ, tôi lược kể cho cả đoàn nghe rằng: Lý Tự Thành (李自成,1606-1645) nguyên danh là Hồng Cơ 鴻基, là lãnh tụ cuộc khởi nghĩa nông dân lật đổ nhà Minh (大明,1368–1644) vào năm 1644. Thành công ông lập nước Đại Thuận (大順, 1644–1645), tự xưng là Đại Thuận hoàng đế 大順皇帝, lên ngôi tại kinh thành nhà Minh. Nhưng, quân Mãn Châu 滿洲 tràn vào Trung Quốc lật đổ Lý Tự Thành, lập nên nhà Thanh (大清國, 1644 – 1912).
Đối với triều Minh, Lý Tự Thành là giặc nhưng đối với nông dân ông ta  là anh hùng, cầm đầu nghĩa quân chống lại chế độ phong kiến.
Trong khi đó, khi đí gần đến Sân vận động quốc gia Bắc Kinh 北京国家体育còn gọi là "Sân Tổ chim" hoàn thành tháng 3 năm 2008 thì ai cũng hào hứng giới thiệu.
3. Thêm thắt để chứng minh dòng dõi Hán nhân với người nổi tiếng:
Hiện nay trên VTV2 đang chiếu bộ phim Càn Long truyền kỳ, khái quát những về chân dung vị vua anh minh, sáng suốt trong việc trị vì quốc gia của triều đinh  nhà Thanh
Trong đó cho thấy: khi phủ của Ung Thân Vương (Hoàng đế Ung Chính sau này) trở nên nhộn nhịp bởi sinh thêm một Cách cách thì bên nhà Trần Thế Quán (Trần Các lão) sát cạnh cũng sinh nhưng là bé trai! ở Hải Ninh cũng có thêm một đứa trẻ.
Ung Chính nghe tin, lệnh cho Trần mang con vào vương phủ của mình để xem mặt rồi thực hiện việc tráo đổi. Đứa con trai nhà họ Trần bị đánh tráo vào phủ Ung Chính sau này chính là Hoàng đế Càn Long.
Còn theo Thanh sử cảo 清史稿 chép tại quyển 10 本紀十 thì:  Càn Long hoàng đế (清高宗乾隆帝, trị vì 1735-1796) tên thật là Hoằng Lịch , là con trai thứ 4 của Thanh Thế Tông Ung Chính hoàng đế (清世宗雍正帝, trị vì 1722 – 1735), mẹ là Hiếu Thánh Hiến hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị (孝圣宪皇后鈕祜祿氏, 1693 – 1777), vốn là Quý phi 熹貴妃 của Ung Chính đế.
Câu chuyện hoán đổi con đã được Kim Dung hư cấu thành bộ tiểu thuyết Thư kiếm ân cừu lục. Tuy nhiên căn cứ vào chính sử nhà Thanh thì rõ ràng đây chỉ là truyền thuyết, thể hiện mong ước của người Hán khi bị người Mãn đô hộ, tự an ủi mình rằng vua trên ngai vàng vẫn là người Hán.
4. Không phân biệt được đường tuần biên với biên giới:
Trưa ngày 06/5/2002 xẩy ra vụ nổ súng khi phục bắt các đối tượng buôn bán chất ma tuý, vũ khí tại bãi cây Tống quán sủi, thôn Hảo Sư Tủng xã Pha Long, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai  giáp với địa phận Mộc Thành, huyện Hà Khẩu, châu Hồng Hà, tỉnh Vân Nam bên Trung Quốc. Hậu quả là phía CATQ tử vong 1,  bị thương 3; bên CAVN có 3 bị thương.
Ngày 07/05/2002, sau khi đã thống nhất giữa 2 ĐBP đối đẳng, đoàn cán bộ Việt Nam cùng đoàn cán bộ Trung Quốc đến nơi xẩy ra vụ việc xác định hiện trường, thu thập dấu vết, vật chứng. Có lắm chuyện đáng kể nhưng  nhớ nhất chuyện khẳng định hiện trường xẩy ra vụ việc là thuộc đất Việt Nam.
Ban đầu, CBCS của bên TQ phục kích hôm đó và cả những người tham gia đoàn công tác đều cho rằng nơi xẩy ra vụ việc trưa 06/5 nằm sát đường biên và thuộc đất Trung Quốc, chỉ có một số vỏ đạn là nằm bên này đường biên thuộc đất Viết. Sau một hồi căng nhau, qua đối chiếu bản đồ, hỏi dân chúng làm nương trên thực địa, đoàn ta mới buộc được đoàn TQ thống nhất:
- Toạ độ nơi xẩy ra vụ việc trưa 06/5 ghi theo cả 2 Bản đồ VN,  TQ là 24. 21 ô 8 và 26. 21 ô 8;
- Hiện trường  là khu bãi cây Tống quá sủi của gia đình ông Hảng Seo Chẩn (40 tuổi,  trú tại thôn Thàng Chư Pến,  xã Tả Ngải Chồ,  huyện Mường Khương,  tỉnh Lào Cai của Việt Nam). Bãi cây này nằm 2 bên đường tuần biên của Việt Nam từ mốc 18 đến mốc 19.
- Nơi này cách đường phân thuỷ (biên giới Việt-Trung) ở phía Bắc 100m. Như vậy nó nằm ở 2 bên đường tuần biên và phía dưới đường biên giới trong nội địa Việt Nam.
- Quanh bãi cây là nương ngô của đồng bào thôn Thàng Chư Pến,  xã Tả Ngải Chồ thuộc Việt Nam và của 1 hộ người dân Mộc Thành bên Trung Quốc 中国云南省红河哈尼族彝族自治州河口木城新寨 do xen canh vùng biên.
Thực chất, đoàn Trung Quốc biết rõ đường “tuần biên” do BĐBP Việt Nam tạo ra nằm phía dưới dốc so với đường “biên giới Việt Trung” ở đỉnh dốc, nơi “phân thủy” nhưng họ coi như phớt lờ, cứ cãi. Ta không cứng là họ lấn, thế thôi!!
5. Bài học không bao giờ cũ:
Viết đến đây càng thấm: biên giới trên bộ đã được phân định và phân giới cắm mốc kéo dài trên 10 năm, từ năm 1885 cho đến năm 1895 bằng Công ước ký giữa Pháp với Thanh. Sau này, ngày 30 tháng 12 năm 1999, tại thủ đô Hà nội, đại diện Chính phủ hai nước đã ký “Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc” (“Trung Việt Lục Địa Biên Giới Điều Ước” 中越陆地边界条约, đựơc quốc hội Trung Quốc thông qua ngày 29/4/2000 và Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 9/6 cùng năm) và đã  hoàn thành việc cắm mốc mà họ còn cố tình “nhập nhằng” thế huống chi ranh giới trên biển!!
Tất nhiên, trên biển, có Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ (ký ngày 25 tháng 12 năm 2000 giữa chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tại Bắc Kinh nhằm xác định biên giới lãnh hải, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế trong Vịnh Bắc Bộ thay thế Công ước Pháp-Thanh 1887) nhưng ký thì ký đấy, họ cứ lý giải và hành động theo ý họ!
Như thế, người Trung đâu không biết và quên lịch sử, địa lý. Tất cả lời nói, hành động bẻ cong đó họ đều có mục đích cả!
Do vậy, khi họa lại bài xướng LÃO LÁNG GIỀNG  của bạn Fb @ tôi đã viết:
BÊN LÁNG GIỀNG XẤU CHƠI
Xin kể chuyện quê xứ Lạc Hồng:
Thiên tạo sống cạnh giống kỳ nhông.
Rào chặt vẫn phen tan cây mận,
Chống luôn còn bận nát khóm hồng.
Bao phen đuổi giặc nơi rừng Bắc,
Mấy bận xua thù chốn biển Đông.
Nối đời tôi luyện lòng gang thép
Sắt son thề giữ vẹn núi sông!

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Ba, ngày 23 tháng 2 năm 2016

Khi TRÒN HOA GIÁP

(Thay lời cảm ơn đại gia đình Fb đã gửi lời CMSN tới Còi tôi):
Ất Mùi, quê chửa hòa bình,
Chạy Tây đen đuổi, mẹ sinh rơi Còi.

Đói ăn, lạc hậu một thời,
Chắt chiu mẹ nhịn, nuôi người quắt queo.


Thời gian trôi, cũng lớn theo
Qua vòng Hoa giáp gieo neo-vinh hùng.
Nay trời ban tới chức “ông”,
Phúc, Tài, Lộc, Tiến cũng không nỗi nào.

Ngày sinh, Xuân thắm hoa Đào,
Lòng Nhân, tính Nghĩa gửi vào câu thơ.
Rèn Tâm, luyện Đức nhớ ghi,
Để Trí luôn sáng, đợi chờ tin vui.

Ất Mùi quay lại đây rồi,
Tròn tuổi Hoa giáp, vòng đời vượt lên.

23/02/2015

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Năm, ngày 11 tháng 2 năm 2016

NHỚ NGƯỜI XƯA


Thương yêu bởi tại dáng người,
Say mái tóc mượt, tiếng cười trong veo.
Nhớ sao lối nhỏ lưng đèo,
Mỗi khi hè đến cùng trèo vượt qua.
Chuyện xưa...nay trở thành xa,
Người sang bến khác, tôi về với tôi.
Mỗi khi qua lại quê người,
Bâng khuâng chạnh nhớ cái thời đã lâu?
Người ơi đừng vượt sông Ngâu,
Vẹn nguyên như thế, kiếp sau “chúng mình”!!!

Lào Cai, Nhân Valentine's Day 14/02/2014

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Tư, ngày 23 tháng 12 năm 2015

Tuần Giáng sinh 2015

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Sáu, ngày 04 tháng 12 năm 2015

Con cháu BÚT TRE NHỚ LÀO CAI

Bạn đưa ngắm thành phố Lào
Cai xong thẳng tuột lôi vào Sa Pa.

Hôm sau ngược dốc Bắc Hà,
Xem hoa Tam giác, ngắm nhà A Tương. (tưởng)

Đang say đã giục lên giường,
Để xe thẳng hướng Mương Khương gập gềnh.
Đến nơi chưa kịp nằm kềnh
Đã lôi xềnh sệch lên đình (đỉnh) Pha Long.

Hôm sau tưởng đã là xong,
Vợ đòi sang dạo một vòng Hà Khâu. (khẩu)

Con gạ tìm đến Suối Thầu,
Suối đâu chẳng thấy, rặt bầu rượu ngô.

Giật mình nghe điện Phố Lu:
Xuống ngay dưới đó, bạn cu (cũ) đang chờ.

Khi xuôi ghé trạm Bảo Hà
Thăm Đền Ông Bẩy, điểm quà bạn cho:

Đây là thuốc bắc Sa Pa,
Đem về sắc uống để bà vui thêm.
Còn đây là của anh Chiêm
Chè pha mời bạn để đêm mất ngù. (ngủ)
Nhấc cầm túi gạo Xén Cù,
Nhớ thương bạn khóc tồ tồ không nguôi.
Lại đây là hộp chè Suồi (suối)
Giàng pha chắc uống cả buổi không buôn. (buồn)
Tiện tay sắp xếp, nói luôn:
Đây quà chị Bướm: thịt lợn sấy khô!

Khi yên vị tại quê nhà,
Nhớ Lào Cai quá, hẹn là lại lên!


Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Bảy, ngày 14 tháng 11 năm 2015

Về BÀI THƠ “NAM QUỐC SƠN HÀ”

Thời gian gần đây trên các trang mạng rộ lên bàn tán xung quanh việc Sách giáo khoa in bài thơ “Nam quốc sơn hà” có vẻ “khác thường” (!?). Đọc kỹ các bài từ chê đến bênh, từ của bậc trí giả đến người bình dân thấy vẫn còn điều lợn cợn mà chưa ai đề cập đến.
Ngẫm mãi, thứ Bẩy cả nhà đi vắng, rỗi viết lại và lên tiếng, không phải a dua “theo đám đông” mà nói lên cái Tâm, cái Trí của mình, cũng là một cách tri ân tiền nhân!
1. Nam quốc sơn hà 南國山河 là 4 chữ đầu một bài thơ thể thất ngôn tứ tuyệt, hiện còn chưa rõ tác giả chứ không phải tên bài thơ và tác giả là Lý Thường Kiệt như nhiều người khẳng định. Đây là bài thơ “THẦN” 神詩  được coi là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam và chỉ được đưa vào chính sử khi nhóm Ngô Sĩ Liên (吳士連, ?-?) soạn “Đại Việt Sử ký Toàn thư” 大越史記全書 từ giữa thế kỷ XV, khắc in vào năm 1697 dựa trên cuốn Đại Việt sử ký 大越史記  của Lê Văn Hưu (黎文休, 1230-1322) soạn hồi thế kỷ XIII mà nay đã bị thất lạc.
Theo những tư liệu hiện có thì bài thơ này do Thần đọc giúp cả Lý Thường Kiệt (李常傑, 1019 – 1105) phá quân Tống năm 1077 ở phòng tuyến sông Cầu . Nhưng có tư liệu nói do Thần từng đọc giúp Lê Hoàn (黎桓,  941 – 1005) đánh quân Tống (宋朝, 960–1279) năm 981 trên sông Bạch Đằng 白藤江 !.
2. Nội dung bài thơ này hiện tìm thấy 35 dị bản nhưng bài khắc trên Mộc bản triều Nguyễn là bản khắc gỗ cổ nhất còn lại cho đến ngày nay. Phiên bản này thống nhất với bản bài thơ trong Đại Việt sử ký toàn thư có nội dung như sau:
2.1. Nguyên bản chữ Hán:
南國山河
2.2. Bản phiên âm Hán-Việt:
Nam quốc sơn hà
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên phân định tại Thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
2.3. Bản dịch thơ:
Sông núi nước Nam
Sông núi nước Nam, vua Nam ở,
Rành rành phân định tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời
3. Một trong những dị bản là bản quen thuộc mà lứa chúng tôi đã được học:
3.1. Nguyên bản chữ Hán (đổi vị trí 2 chữ và ):
南國山河
3.2. Bản phiên âm Hán-Việt (đổi vị trí 2 chữ định và phân/phận):
Nam quốc sơn hà
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
3.3. Bản dịch thơ :
Sông núi nước Nam
Sông núi nước Nam, vua Nam ở,
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời
(Bản dịch này từ lâu phổ biến trên nhiều sách báo và trong nhà trường, song không ghi tên dịch giả Hoàng Xuân Hãn (1908-1996)).
4. Ngược dòng lịch sử, trước Đại Việt sử ký toàn thư, sách Lĩnh Nam chích quái 嶺南摭怪 do Trần Thế Pháp (陳世法 ?-?) soạn đời Trần (陳朝, 1226–1400) gắn bài thơ với cuộc chiến chống quân Tống lần thứ nhất thời Tiền Lê của Lê Đại Hành năm 981, với nội dung hơi khác một chút như sau:
4.1.Nguyên văn chữ Hán:
南國山河南帝居,
皇天已定在天書。
如何北虜來侵掠,
白刃翻成破竹餘。
4.2. Phiên âm Hán Việt:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư.
Như hà Bắc lỗ lai xâm lược,
Bạch nhận phiên thành phá trúc dư.
4.3. Dịch nghĩa:
Sông núi nước Nam thì Hoàng đế nước Nam ở.
Thượng đế đã định rõ như vậy trong sách trời.
Cớ sao giặc phương Bắc lại tới đây xâm lược,
Gươm sáng sẽ chém hết các ngươi tan tành như chẻ tre.
5. Như đã nói ở trên, đến nay các học giả đã tìm thấy 35 dị bản bằng chữ Hán của bài thơ THẦN này, vì thế, có nhiều bản dịch cũng là chuyện bình thường.
Gần đây dư luận xôn xao bởi bản dịch có nội dung là:
Núi sông Nam Việt vua Nam ở,
Vằng vặc sách trời chia xứ sở.
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây?
Chúng mày nhất định phải tan vỡ.
Thực ra đây không phải là bản “dịch mới, dịch lại” như nhiều người nói mà nó là bản dịch của 2 nhà Hán học uyên thâm là Giải nguyên Lê Thước (1891 - 1975) và Tú tài Nam Trân (1907-1967) có trong cuốn Thơ văn Lý Trần - tập 1, NXB Khoa học xã hội, 1977!
Hơn nữa dịch, nhất là dịch thơ ra thơ luôn mang tính tương đối nên băn khoăn về “dịch mới, dịch lại”, “làm mất ý nghĩa bài thơ” là không có cơ sở.
6. Cá nhân tôi, do ham thích nên đã đọc nhiều các lời giảng, lời bình mà không ít tác giả là những Giáo sư, Tiến sĩ dạy Đại học, nghiên cứu ở Viện nọ, trường kia, bằng cấp Hán văn, Anh văn…đầy mình. Tôi thán phục họ bởi đó là những bậc thầy về chuyên ngành trong khi mình chỉ là hậu sinh, không học chuyên ngành, kiến thức lỗ mỗ và chắp vá. Song từ tâm thức mình, tôi thấy những bài viết đó có bài thể hiện rõ tác giả chưa nắm chắc về lịch sử Việt, Hán, về sự tế nhị của thời cuộc và do vậy họ chưa nhận ra sự sâu sắc trong những chữ đầy ẩn dụ của tiền nhân. Sau đây, qua mấy chữ của 2 câu đầu sẽ thấy:
7. Câu thứ nhất: 南國山河南帝居 (Nam quốc sơn hà Nam đế cư)
7.1. Chữ “hà” trong “sơn hà” 山河:
Hán tự có 2 chữ chỉ sông, đó là (hà) và (giang) và ở Trung Quốc:
- 2 tỉnh nằm ở phía bắc, trung của Trung Quốc, tức hai bờ sông Hoàng Hà 黃河 được xem là vùng đất phát nguyên trung tâm của nền văn minh Trung Hoa 中华文化 là: Hà Bắc 河北 và Hà Nam 河南 thường gọi là Lưỡng Hà 兩河;
- Còn tỉnh nằm cách xa trung tâm và độc lập với nền văn minh Hoa Hạ 華夏 cổ cũng gắn với sông nhưng lại lấy chữ “giang”:  Chiết Giang 浙江 (trong tiếng Việt hay bị viết nhầm thành Triết Giang), Giang Tô 江苏, Giang Tây 江西.
 Bài thơ dùng chữ  (hà) hàm ý khẳng định Việt và Hoa là hai xứ khác nhau, hai đất nước khác nhau và nước Việt lập quốc ngang thời với vùng Hoa Hạ. Đất nước này có văn minh riêng-Văn minh sông Hồng mà chữ Hán là 紅河 (Hồng hà) chứ không phải là phên dậu sau này nhập vào Bắc quốc như vùng Giang Nam 江南 (vùng đất nằm về phía nam của hạ lưu Trường Giang 長江 (Dương Tử 扬子江, con sông dài nhất châu Á)) !
7.2. Chữ “đế” trong “Nam đế” 南帝:
Quốc gia quân chủ là quốc gia mà cấu trúc chính quyền có vua đứng đầu. Tùy độ lớn của quốc gia  mức độ ảnh hưởng của nó tới lân bang mà người đứng đầu đó có thể gọi là:
- Hoàng đế (H: 皇帝, A: emperor , P: empereor là tước vị cao của vua thường là người cai trị của một đế chế hoặc loại khác của vương quốc đế quốc. Chữ này do Doanh Chính (嬴政/Triệu Chính 趙政, 259 tCn-210 tCn) đặt ra khi diệt 6 nước, thống nhất trung nguyên (221 tCn) sáng lập ra nhà Tần (秦朝, 221 tCn - 206 tCn), trở thành  Tần Thủy Hoàng 秦始皇.
- Vương mà tiếng Việt gọi là “Vua” 君主 là người đứng đầu tối cao, thực tế hoặc biểu tượng, của chính quyền quân chủ ở một quốc gia. Nó là cấp dưới thấp hơn “đế”, do “đế” phong.
Trong lịch sử thời phong kiến tự chủ, để sống yên ổn bên cạnh anh hàng xóm lớn, nặng tư tưởng bá quyền, các triều đình Đại Việt đã tìm ra cách chung sống hiệu quả bằng cách ứng xử “trong đế ngoài vương”! Tức là: bên ngoài vẫn cầu phong, xưng thần với “thiên tử” Trung Quốc nhưng bên trong thì đường hoàng là hoàng đế Việt Nam, “nghêng ngang riêng một biên thuỳ, thiếu gì cô quả thiếu gì bá vương”.
7.3. Trong bài thơ, cổ nhân dùng “Sơn hà” và “Nam đế” hàm ý: Nước Nam, “vốn xưng nền Văn hiến đã lâu” và có chủ, chủ là Hoàng đế giống như bên Bắc quốc! Nên mọi bản dịch chữ “南帝” (Nam đế) chuyển thành “Vua Nam” là chưa nêu bật được tinh thần quốc gia, tự tôn dân tộc của bài thơ!
8. Về câu thứ 2: /分定 (Tiệt nhiên định phận/phân định tại Thiên thư)
8.1. Chữ “phận” (cũng đọc là “phân”) có nghĩa là tách chia, địa phận, ranh giới, biên giới và cũng có nghĩa là danh phận, chức phận, số phận. Do vậy viết “định phận” sẽ được hiểu là số phận đã định, gợi lên một liên tưởng tiêu cực, thụ động. Phải là “phân định” thể hiện rõ việc “núi sông bờ cõi đã chia” rất rõ ràng.
8.2. Thiên Thư 天書 là sách Kinh Thư 書經, tức bản Thượng Thư 尚書 mà Khổng Tử (孔子,  551 –479 tCn) đã san định trong đó có kể về Việt Thường Thị    giao hảo với nhà Chu (周朝, 1122 –249 tCn) cống chim Trĩ. Các sử gia Trung Hoa về sau đều căn cứ vào đó để chép, phân tích, nghiên cứu lịch sử và tư tưởng chính trị của Trung Quốc thời cổ đại.
Về việc này Đại Việt sử ký toàn thư chép:  Thời Hoàng Đế   dựng muôn nước, lấy địa giới Giao Chỉ   về phía Tây Nam, xa ngoài đất Bách Việt  . Vua Nghiêu sai Hy thị đến ở Nam Giao   để định đất Giao Chỉ ở phương Nam. Vua Vũ chia chín châu  thì Bách Việt thuộc phần đất châu Dương  , Giao Chỉ thuộc về đấy. Từ đời Thành Vương   nhà Chu mới gọi là Việt Thường thị   , tên Việt bắt đầu có từ đấy.
8.3. Từ “Phân định” dẫn ở sách “Thiên thư”, tiền nhân khẳng định Việt và Hoa  hay nói cách khác Nam và Bắc là hai quốc gia khác nhau, độc lập với nhau và điều đó đã được phân chia ranh giới rõ ràng từ thượng cổ. Do vậy, cùng với câu 1 đã phân tích ở trên bài thơ được xem là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Việt.
Trên tinh thần ấy, tôi thích bản dịch ở Đại Việt sử ký toàn thư:
Sông núi nước Nam, Nam đế ở,
Rõ ràng phân định tại sách trời
Cớ sao nghịch tặc sang xâm phạm?
Cứ thử làm xem, chuốc bại nhơ!


-Lương Đức Mến, Thu Ất Mùi 2015-

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Năm, ngày 01 tháng 10 năm 2015

KÍNH DÂNG MẸ, CÁC BẬC CAO NIÊN nhân KỶ NIỆM 24 NĂM NGÀY QUỐC TẾ NGƯỜI CAO TUỔI

1. Lời thưa: Cách đây 25 năm, ngày 14/12 /1990 Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc đã bỏ phiếu tán thành việc lấy ngày 1 tháng 10 hàng năm làm “Ngày Quốc tế Người cao tuổi”, như đã được ghi trong Nghị quyết 45/106. Ngày quốc tế người cao tuổi đầu tiên được tiến hành vào ngày 01/10/1991. Riêng Việt Nam còn có “Ngày người cao tuổi Việt Nam” là Ngày 06 tháng 6 hằng năm theo quy định tại Điều 6 Luật Người cao tuổi Số: 39/2009/QH12 .
2. Câu chúc:
PHÚC trời ban LỘC: tuổi THỌ trường,
Chân vững, lưng ngay, trí tỏ tường.
Mắt ngời đón nhận nồng ân nghĩa,
Tâm sáng dồi trao ấm tình thương.
Qua buổi trở trời kim dùi não,
Vượt khi đổi gió kiến bò xương.
Tuổi cao chí khí không hề giảm,
Để cho hậu thế mãi noi gương.


- Lương Đức Mến, 01/10/2015-

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Tư, ngày 12 tháng 8 năm 2015

NẠN ĐÓI ẤT DẬU 1945 và bài VĂN TẾ nhớ đời

Công trình nghiên cứu về nạn đói năm 1945 của GS Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam và GS Furuta Moto (người Nhật) chỉ rõ: chính sách vơ vét thóc gạo của phát xít Nhật và thực dân Pháp lúc bấy giờ cùng với thiên tai, mất mùa ở nhiều tỉnh đồng bằng Bắc Bộ là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thảm cảnh trên.

1. Nhớ lại ngày tháng thương đau:

Tháng 10/1940, khi đặt chân đến Đông Dương, Nhật thi hành hàng loạt chính sách đánh vào nền kinh tế: buộc thực dân Pháp phải ký kết nhiều hiệp ước yêu cầu cung cấp lương thực, giao nộp lúa, gạo cho Nhật hàng năm; cấm vận chuyển lương thực từ Nam ra Bắc, hạn chế chuyên chở tự do, chỉ cho chở dưới 50 cân gạo trong một tỉnh; bắt người dân nhổ lúa trồng đay, dành ruộng trồng lạc.
Trong khi Nhật vơ vét cho chiến tranh thì Pháp dự trữ lương thực phòng khi quân Đồng minh chưa tới, phải đánh Nhật hoặc dùng cho cuộc tái xâm lược Việt Nam. Thuế đinh, thuế điền, tô tức trở thành những chiếc thòng lọng buộc vào cổ nông dân.
Năm 1944, Việt Nam bị mất mùa nhưng Pháp và chính quyền phong kiến vẫn phải cung cấp cho Nhật hơn 900.000 tấn gạo để nuôi chiến tranh phát xít và làm nguyên liệu để người Pháp nấu rượu, cùng thóc dùng đốt lò thay cho than đá. Hàng chục nghìn mẫu ngô bị phá, hàng triệu tấn thóc bị thu nộp. Theo thống kê, năm 1940, diện tích trồng đay là 5.000 ha nhưng đến năm 1944 đã tăng lên 45.000 ha.
Nhật cấm vận chuyển lúa từ miền Nam ra, vơ vét thóc ở miền Bắc khiến giá thóc, gạo tăng vọt. Năm 1943, một tạ gạo giá chính thức là 31 đồng, giá chợ đen là 57 đồng; năm 1944 tăng lên 40 đồng, giá chợ đen là 350 đồng, nhưng đến đầu năm 1945 thì giá chính thức vọt lên 53 đồng còn giá chợ đen từ 700-800 đồng. Giá gạo "phi nước đại" khiến người dân không đủ sức mua, phải chịu cảnh chết đói.
Tháng 9/1944, lụt vỡ đê La Giang (Hà Tĩnh), đê sông Cả (Nghệ An) làm cho nạn đói diễn ra trầm trọng hơn.Theo những người dân trải qua nạn đói khủng khiếp ở Tây Lương (Tiền Hải, Thái Bình) thì vụ mùa năm 1944, lúa trên các cánh đồng rộng hàng trăm mẫu đều bị "rù" (rầy phá hoại), chết trắng, chết vàng. Cả mẫu ruộng không thu nổi vài chục cân thóc mẩy.
Nạn đói đã diễn ra ở 32 tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ, từ Quảng Trị trở ra. Trọng điểm là các tỉnh đồng bằng, nơi dân số tập trung đông, có nhiều ruộng, như Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng, Thanh Hóa. Cái đói không buông tha ai, trọng tâm là những người dân nghèo, người lao động, đặc biệt là nông dân không có ruộng đất chuyên đi làm thuê và nông dân ít ruộng đất.
Để chống lại cái đói, cái chết cận kề, người dân ăn từ rau dại, đến củ chuối, vỏ cây, giết cả trâu bò, chó mèo; dân chài thì ăn củ nâu, cá chết. Khi không còn gì ăn thì họ ngồi chờ chết, để người nhà mang đi chôn hoặc chết ở bờ bụi khi đi kiếm ăn. Cái chết đến từ từ, thảm khốc, dày vò cả thể xác lẫn tinh thần. Cái đói khiến cha bỏ con, chồng bỏ vợ, tình người đứt đoạn, đi xin ăn không được thì cướp giật. Ở các vùng quê, hàng nghìn hộ gia đình chết cả nhà, nhiều dòng họ chỉ một vài người sống sót.
Tháng 3/1945, nạn đói lên đến đỉnh điểm. Lũ lượt người ngược, kẻ xuôi chạy đói đến các thành phố lớn, họ bán cơ nghiệp để lấy tiền đi đường. Người dân Hà Nội khi ấy đã phát động Ngày cứu đói, lập trại tế bần phát cháo. Người sắp chết thì được đưa về trại Giáp Bát, còn người chết đói thì xác chất đầy xe bò đem đi "hất xuống hố như hất rác" tại nghĩa trang Hợp Thiện (Hai Bà Trưng).
Mục sư Lê Văn Thái, nguyên Hội trưởng Hội thánh Tin lành Việt Nam thời kỳ 1942-1960 viết lại: "Tôi thường nghe tiếng rên xiết của những người sắp chết, thấy những đống thịt quằn quại gần những xác chết, nơi này 5-3 xác chết, chỗ khác từng đống người sống nằm lẫn với người chết. Trên những đoàn xe bò đầy những xác chết, mỗi xe chỉ phủ một chiếc chiếu, trong những cái hầm mấy trăm xác chết mới lấp một lần. Một vài lá cải thối trong đống rác, một vài hột cơm đổ bên cạnh vò nước gạo thì họ kéo nhau từng lũ đến tranh cướp".
"Họ đi thành rặng dài bất tuyệt gồm cả gia đình, già lão có, trẻ con có, đàn ông có, đàn bà có, người nào người nấy rúm người dưới sự nghèo khổ, toàn thân lõa lồ, gầy guộc, giơ xương ra và run rẩy. Ngay cả đến những thiếu nữ tuổi dậy thì, đáng lẽ hết sức e thẹn cũng thế. Thỉnh thoảng họ dừng lại để vuốt mắt cho một người trong bọn họ đã ngã và không bao giờ dậy được nữa, hay để lột miếng giẻ rách không biết gọi là gì cho đúng hãy còn che thân người đó", tác giả Vespy viết trong một bức thư vào tháng 4/1945.
Giữa lúc nạn đói lên đến đỉnh điểm thì ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp. Mặt trận Việt Minh phát động nhân dân phá hàng trăm kho thóc của Nhật để cứu đói. Phong trào diễn ra sôi nổi khắp nơi khiến nạn đói phần nào được đẩy lui. Nông dân bắt đầu trở về quê tiếp tục sản xuất. Đến vụ chiêm (tháng 6) có gạo mới, mức sống thay đổi đột ngột lại khiến nhiều người chết vì ăn quá no. Môi trường bị ô nhiễm nặng bởi xác chết không được xử lý và trải qua cơn đói lâu dài kéo theo dịch tả và dịch sốt vàng da lại giết thêm nhiều người ở Bắc Giang, Cao Bằng.
Nhiều làng xã chết 50-80% dân số, nhiều gia đình, dòng họ chết không còn ai.. Làng Sơn Thọ, xã Thụy Anh (Thái Thụy, Thái Bình) có hơn 1.000 người thì chết đói mất 956 người. Chỉ trong 5 tháng, số người chết đói toàn tỉnh lên đến 280.000 người, chiếm 25% dân số Thái Bình khi đó. Lịch sử đảng bộ Hà Sơn Bình cũ ghi rõ: "Trong nạn đói năm 1945, khoảng 8 vạn người (gần 10% dân số trong tỉnh) chết đói, nhiều nơi xóm làng xơ xác tiêu điều, nhất là ở những nơi nghề thủ công bị đình đốn. Làng La Cả (Hoài Đức) số người chết đói hơn 2.000/4.800 dân, có 147 gia đình chết không còn một ai. Làng La Khê (Hoài Đức) có 2.100 người thì 1.200 người chết đói, bằng 57% số dân".
Tháng 5/1945, bảy tháng sau khi nạn đói bùng nổ tại miền Bắc, tòa khâm sai tại Hà Nội lệnh cho các tỉnh miền Bắc phúc trình về tổn thất. Có 20 tỉnh báo cáo số người chết vì đói và chết bệnh là 400.000, chỉ tính miền Bắc. Số liệu nghiên cứu trong cuốn Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam - Những chứng tích lịch sử của GS Văn Tạo thống kê: "Riêng tỉnh Thái Bình, nơi nạn đói diễn ra trầm trọng nhất, đã được Ban lịch sử tỉnh điều tra, con số tương đối sát thực tế là cả tỉnh chết đói mất 280.000 người. Chỉ tính số người chết đói ở Thái Bình cùng với Nam Định hơn 210.000 người, Ninh Bình 38.000, Hà Nam chết 50.000 thì số người chết đói đã lên đến hơn 580.000. Như vậy, con số 2 triệu người Việt Nam chết đói trong 32 tỉnh cũ tính từ Quảng Trị trở ra và hai thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng là gần với sự thực".
So sánh nạn đói năm 1945 ở Việt Nam với tổn thất của các cuộc chiến tranh Pháp - Đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Nạn đói nguy hiểm hơn nạn chiến tranh. Thí dụ trong 6 năm chiến tranh, nước Pháp chết một triệu người, nước Đức chết chừng 3 triệu. Thế mà nạn đói nửa năm ở Bắc Bộ, ta đã chết hơn 2 triệu người".
70 năm trôi qua, những chứng tích lịch sử về nạn đói năm xưa không còn nhiều, ngoài những nấm mồ tập thể sâu dưới lòng đất lạnh. Những nhân chứng từng đi qua tai họa lịch sử ấy thì ghi nhớ nỗi đau thương sâu trong tâm, mỗi lần nhắc đến chỉ biết rưng rưng nước mắt.

2. Truy điệu những lương dân chết đói

Đó là bài Văn tế nạn nhân vụ đói tháng 3-1945 mà GS Vũ Khiêu (khi đó mới 29 tuổi) đã viết trong nước mắt giữa một đêm mưa dầm gió lạnh, đau xót cho những thân phận dưới một bầu trời đen tối, nửa như trần gian nửa như âm phủ.

Một cơn gió bụi[1] vừa tan , Hai triệu sinh linh đã mất[2].
Khí oan tối cả mây trời, Thây lạnh phơi đầy cỏ đất.
Hỡi ôi:
Chung khí non sông, Cùng mang tai mắt.
Vẫn giống thông minh, Vốn dòng cường quật.
Cớ sao không Nam Bắc vẫy vùng, Ðể cam chịu cơ hàn[3] bứt rứt.
Ðáng lẽ nay bốn bể tranh hùng, chí những tưởng giật cờ cứu nước, sống xông pha nơi bão đạn rừng gươm.
Mà ngán nhẽ một thời cơ nhỡ, lòng mải theo manh áo lưng cơm, chết thê thảm nơi hang cùng ngõ khuất.
Thương thay:
Hồn đã rất cao, Lòng vì quá chất
Những tưởng giỏ cơm bầu nước, đám lợi danh mây nổi bèo trôi.
Nào ngờ tháng lại ngày qua, trường tranh đấu mưa dày gió rựt.
Việc bốn mùa nào xây cống đắp đê, nào làm đường xẻ đập, huyết hãn kia bồi đắp lấy non sông.
Thân bảy thước khi dầm sương dãi nắng, khi gội gió tắm mưa, xương thịt ấy phải đâu là đá sắt.
Ðã mỏi xác cân đay nộp lạc, thóc được ít lại liên đoàn[4] lấy hết, ách tham tàn càng gánh càng đau.
Từng mòn chân khi chạy thuế lo sưu, tiền đã còn hương lý xoay quanh, dây cơ khổ mỗi ngày mỗi thắt.
Cho đến khi:
Hạt tấm không còn, Ðồng chinh cũng mất
Những tưởng túng qua, Ngờ đâu đói thật
Trong vợ con lòng đã xót lòng, Ngoài hương xóm mặt càng rõ mặt.
Trước còn định dây khoai rễ má, lần hồi sao bữa đến qua loa.
Sau đành đem tháo bếp dỡ nhà xoay sở mãi ngày càng héo hắt.
Ðầu bù tóc rối, dắt díu nhau nơi quán đổ lều nghiêng.
Áo cói quần rơm, chua xót mấy khi mưa dầm nắng gắt.
Ngẫm thủa trước, cảnh nghèo cũng lắm, chữ cương thường còn giữ dạ đinh ninh.
Mà ngày nay nỗi khổ không cùng, dây thân ái cũng nghiến răng dứt đứt.
Mẫu tử tình thâm, ôi một mái tơ xanh nào đã tội, bỏ u ơ cuối chợ đầu đường.
Phu thê nghĩa nặng, hẹn trăm năm đầu bạc cũng sai lời, sớm đau đớn người còn kẻ mất.
Biết đi đâu ? Bốn phương mờ mịt, trời lờ như điếc, đất như câm.
Hỏi cùng ai ? Những bóng bơ vơ, ruột rát tựa bào, gan tựa cắt.
Lang thang chi phách ở hồn đi!
Thảm thiết nhẽ ngày tàn bóng tắt!
Có kẻ tìm bãi cỏ nằm xiêu, Có người đến bên cây ngã vật
Có khi ngõ vắng gieo mình, Có lúc vườn sau thở hắt
Có những quán: hàng bao xác lạnh, bỏ ruồi bâu bọ khoét chửa ai khiêng.
Có nhiều nơi: một nắm xương khô, từng nắng giãi mưa dầu không kẻ nhặt.
Mỗi người manh chiếu bó bó chôn chôn.
Từng đống trên xe chồng chồng, chất chất.
Ôi nói ra những toát mồ hôi, Mà nghĩ lại thêm tràn nước mắt!

Hỡi những bóng điêu linh, Hỡi những hồn oan uất.
Mà đường khuya quãng vắng lang thang Trên ngọn cỏ đầu cây lẩn khuất!
Ta đã trông những hình rã rượi, mẹ khóc con trong sương lạnh trăng mờ.
Ta đã nghe những tiếng thảm thê, già bảo trẻ dưới mưa lay gió lắt.
Nghĩ thương kẻ còn đau khổ mãi, nỗi oan buồn máu biếc[5] không tan
Mà biết ai chưa trả thù xong, lửa oán giận gan vàng chẳng tắt.
Oán đã đành những kẻ xâm bang: giết người, cướp của, thỏa dạ tham tàn
Giận biết mấy cho quân đồng loại: tham nhũng, đầu cơ, riêng mình khoái dật.
Ngán nhẽ lầu son gác tía, chén phong lưu những máu chan hòa.
Gớm cho mũ bạc đai vàng, đài vinh hiển bằng xương cao ngất!
Nay gặp buổi:
Súng dân quân dậy sóng ầm ầm, Cờ khởi nghĩa ngất trời phới phất
Ðèn quang minh đương độ soi cao, Gươm chính khí đến ngày tuốt phắt.
Bao phường cướp nước không tha, Những lũ buôn nòi sẽ bắt
Hận thù kia rồi trả phân minh, Oan thác nọ sẽ đền chu tất.
Cho ai chín suối ngậm cười, Ðể khách năm châu tỏ mặt.
Chỉ đáng tiếc sống xưa chửa kịp đem thân nọ đền bù đất nước, phải ngậm hờn cùng hoa cỏ ủ ê.
Thì ngày nay chết phải làm sao để hồn kia chói lọi trời mây, mà bảo vệ lấy giang sơn vững chặt.
Giúp đồng bào cho trăm triệu sống an vui Dựng độc lập để nghìn thu cờ vững ngất.
Tháng 5 năm 1945
(Nguồn:  http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/nan-doi-lich-su-nam-at-dau-3130107.html và http://www.lichsuvietnam.vn/home.php?option=com_content&task=view&id=1122&Itemid=68)



[1] Gió bụi, chữ Hán là "phong trần" chỉ những biến cố lớn lao làm đảo lộn hoàn toàn cuộc sống của con người. Ở đây, tác giả muốn chỉ cuộc đánh chiếm Ðông Dương của phát-xít Nhật và nạn đói khủng khiếp do chúng gây nên hồi giữa thập kỷ 40 của thế kỷ 20.
[2] Nạn đói do phát-xít Nhật gây ra năm 1945 đã làm cho hơn 2 triệu dân ta bị chết đói.
[3] Cơ là đói kém, hàn là lạnh buốt. Cảnh cơ hàn là cảnh đói rét. Ở đây tác giả nói tới cảnh chết đói năm 1945.
[4] Liên đoàn: Tổ chức do bọn Nhật lập ra hồi những năm 1944 - 1945 chuyên thu mua thóc của dân ta.
[5] Máu biếc (Bích huyết): Trương Hoàng đời Chu bị chết oan ở nước Thục, ba năm đào mả lên, thấy máu không tiêu mà lại hóa ra sắc biếc.

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...