Chào mừng bạn đã ghé thăm,
Chúc bạn Vui, Khỏe, quanh năm Phát tài.
Nỗi niềm muốn nối vòng dài,
Kết giao muôn nẻo, tương lai nối gần.
-*-
Địa chỉ: SN 328 đường Hoàng Liên, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
ĐT DĐ: 0913 089 230 - Email: luongducmen@gmail.com.

Thứ Ba, 5 tháng 5, 2020

Về DANH XƯNG BIỂN ĐÔNG

Biển Đông東海 là tên Việt Nam khi nói đến vùng biển (phía Đông nước Việt Nam) có tên quốc tế là South China Sea (Anh ngữ) hay Mer de Chine méridionale (Pháp ngữ) nghĩa là biển Nam Trung Quốc (南中国海, biển ở phía Nam nước Trung Quốc). Đây là một biển rìa lục địa và là một phần của Thái Bình Dương, trải rộng từ Singapore tới eo biển Đài Loan và bao phủ một diện tích khoảng 3.447.000 km². Nó là biển lớn thứ tư trên thế giới sau biển Philippines, biển San Hô và biển Ả Rập. Vùng biển này và các quần đảo của nó là đối tượng tranh chấp và xung đột giữa nhiều quốc gia trong vùng, đặc biệt là giữa Việt Nam (ở phía Tây) và Trung Quốc (ở phía Bắc).
Ngược dòng lịch sử ta thấy Trung Quốc từng có nhiều danh xưng để gọi vùng biển này. Hồi đầu Công nguyên họ gọi là Giao Chỉ dương 趾洋, nghĩa là biển Giao Chỉ, rồi “Trướng Hải” 漲海 hay “Phí Hải” 沸海đến thời Đường  (唐朝, 618–907) khi cai trị và đổi nước ta thành An Nam đô hộ Phủ安南都護府mới dần dần đổi vùng biển đó sang gọi là “Nam Hải” 南海.
Trong khi đó, người Việt đã biết đến danh xưng Biển Đông từ rất lâu. Ví như dân gian có: “Thuận vợ thuận chồng Biển Đông tát cạn”, “Vượt bể Đông có bè có bạn, Mẹ sinh ta vượt cạn một mình”, “Dã tràng xe cát biển Đông, Nhọc mình mà chẳng nên công cán gì”,…  hoặc trong khi chúc Thọ. cổ nhân hay dùng câu: “福如東海; 壽比南山” (Phúc như Đông Hải, Thọ tỷ Nam sơn),…
Trong Bình Ngô đại cáo平吳大誥, Nguyễn Trãi (阮廌, 1380-1442) đã viết: “決東海之水不足以濯其污” (Quyết Đông Hải chi thủy bất túc dĩ trạc kỳ ô) tức “Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mù”. Sau này, trong cuốn Hoàng Việt địa dư chí皇越地輿誌, Phan Huy Chú (潘輝注, 1782-1840) viết: “東臨大海đông lâm đại hải”, tức phía Đông nước ta giáp biển lớn.
 “Biển Đông” còn gắn với chuyện về một nữ tướng lừng danh chống ngoại bang phương Bắc từ thế kỷ III.
Nói đến lịch sử chống ngoại xâm trong thời kỳ Bắc thuộc (北屬時代,43-938), không thể không kể đến cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu (趙婆起義,246-248). Nữ anh hùng này còn gọi là Triệu Trinh Nương  趙貞娘 tên thật là Triệu Thị Trinh 趙氏貞 hay Lệ Hải Bà Vương, sinh ngày 2 tháng 10 năm Bính Ngọ (226) mà người Trung Quốc gọi là Triệu Ẩu (趙嫗, bà họ Triệu). Bà là người Quân Yên, quận Cửu Chân九真, nay thuộc huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa và là em của Triệu Quốc Đạt (趙國達, ? - 248), một hào trưởng 豪長vùng này.
Năm 246, bà đã cùng anh trai là Triệu Quốc Đạt dựng cờ khởi nghĩa chống lại nhà Đông Ngô (東吳,229–280) đang đô hộ nước ta khi đó gọi là Giao Châu (交州, Giao Province, 203-544).
Sau khi Triệu Quốc Đạt chết (248), bà lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lại sự xâm lược của quân Đông Ngô, do Lục Dận (cháu của Lục Tốn), thứ sử Giao Châu chỉ huy. Câu thành ngữ “Lệnh Ông không bằng cồng Bà” xuất hiện từ việc tiếng Lệnh của quan huyện Đạt không có hiệu lực tập hợp dân bằng tiếng Cồng của Bà Triệu. Nhiều nghĩa binh đã tử trận vào năm đó. Bà chống đỡ với quân Đông Ngô được 5-6 tháng thì thua chạy đến xã Bồ Điền (nay thuộc khu núi Tùng, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa) và tự tử. Khi ấy Triệu Thị Trinh mới 23 tuổi. Kể về việc này dân gian có câu:
Ru con con ngủ cho lành,
Để mẹ gánh nước rửa bành con voi.
Muốn coi lên núi mà coi,
Coi bà Triệu Ẩu cỡi voi bành vàng.
Lại có chuyện rằng, thuở nhỏ cha mẹ đều mất sớm, Bà đến ở với anh là Triệu Quốc Đạt. Lớn lên, bà là người có sức mạnh, giỏi võ nghệ, lại có chí lớn. Năm 19 tuổi, đáp lời người hỏi bà về việc chồng con, Bà Triệu nói: “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường kình ở biển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người!  
 Câu nói này thấy chép đầu tiên trong sách Thanh Hoá kỷ thắng 清化紀勝của Vương Duy Trinh王維貞. Tác giả người Phủ Diễn, Từ Liêm, Hà Nội; tự Tử Cán, hiệu Đạm Trai; đỗ Cử nhân 舉人kì thi Hương 鄉試năm Canh Ngọ 1870, làm Bố chánh (布政, chức quan sau tuần phủ hay tổng đốc, chuyên trông coi việc thuế khoá, tài chính ở tỉnh), sau thăng đến Tổng đốc (總督, đứng đầu một tỉnh lớn, coi mọi mặt về dân sự lẫn quân sự trong địa hạt) Thanh Hóa có đóng góp nhất định trong việc sưu tầm văn học dân gian địa phương.
Nguyên bản cuốn này khoảng 27.000 chữ Hán hoàn thành vào ngày 25 tháng 5 năm Thành Thái 15 (1903), mô tả khá đầy đủ các di tích lịch sử, cảnh đẹp, danh lam của Thanh Hóa thời bấy giờ, gắn với tên tuổi một số vị anh hùng, danh nhân đất nước, cũng như bút tích, thơ ca họ còn để lại.
Trong sách đó, Vương Duy Trinh giành khoảng 1090 chữ Hán để chuyển tải nội dung phong phú về Bà Triệu với những tư liệu được chắt lọc qua thư tịch cổ của Việt Nam, Trung Quốc và lưu truyền trong dân gian.
Như vậy, danh xưng “Biển Đông đã được dân Việt biết đến từ rất xa xưa và được chép trong sử sách muộn nhất từ thế kỷ XV trong một áng văn bất hủ của một tài danh “sáng tựa Sao Khuê ! Trong khi đó cái “đường 9 đoạn của Trung Quốc mới “nặn ra giữa thế kỷ trước còn “Tứ Sa thì mới toanh toành toành !
Vì thế, trong các tài liệu, băng rôn, xuất bản phẩm,…trong tiếng Việt phải dùng thống nhất là BIỂN ĐÔNG còn khi thế giới có dùng từ SOUTH CHINA SEA thì phải được hiểu là vùng biển PHÍA NAM NƯỚC TRUNG QUỐC chứ KHÔNG PHẢI BIỂN CỦA TRUNG QUỐC như Bắc Kinh có tình hiểu mập mở thế !. Điều này tương tự như thế giới gọi ẤN ĐỘ DƯƠNG, BIỂN NHẬT BẢN,… chỉ đơn thuần là Ấn Độ, Nhật Bản,…ở gần đó !

-         Lương Đức Mến, 05/5/2020-

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2020

“SỐNG CHUNG VỚI LŨ”

Việt Nam và Trung Quốc có “Sơn thủy tương liên” là do “thiên định”, chả khác được! Có điều, không may cho chúng ta là phải ở cạnh một ông “láng giềng xấu chơi” đất rộng người đông do “bành trướng” mà có và cho đến nay, cái “máu” đó vẫn còn và phát triển lên một tàm cao mới!

Việt Nam không thể bứng đất đai, sông núi, biển trời của ta cùng dân Việt sang hành tinh khác mà ở vì thế chúng ta phải biết cách tồn tại, phát triển như cha ông ta từ ngàn xưa đã tồn tại, xây dựng và phát triển! Có lẽ câu nói dân gian “sống chung với lũ” một lần nữa lại hợp lý!
I. THỰC TẠI
Không phải hiện thời mà ngay từ khi vừa mới giành chính quyền ở đại lục, Bắc Kinh đã có chiến lược muốn “biến Biển Đông thành ao nhà của họ”. Đặc biệt từ cuối những năm 1950 trở đi, Trung Nam Hải đã toan tính và có những bước đi khá bài bản. Cụ thể: ra tuyên bố về lãnh hải, vẽ ra “đường chín đoạn”, cưỡng chiếm các hòn đảo bằng vũ lực, kiên cố hóa các hòn đảo đó, tự tiện đưa tuần tuần tra, ra tuyên bố,…
Trong quá trình thực hiện âm mưu làm bá chủ Biển Đông, Trung Quốc gặp phải cái “gai” là Việt Nam! Một lần nữa, lịch sử lại chọn Việt Nam đương đầu, chống chọi với thế lực “bành trướng” trên Biển Đông! Do vậy Bắc Kinh đang tập trung mọi thủ đoạn, sức mạnh để nhổ bỏ cái gai Việt Nam. Họ tin rằng nếu “khuất phục” được nước ta thì âm mưu ôm trọn Biển Đông của Trung Nam Hải đã trong tầm tay!
Trung Quốc đã ra sức làm việc đó, liên tục mà cao điểm là các mốc 1958, 1974, 1983, 1988, 2012,  2014, 2019.
Sang năm 2020 rầm rộ  tiến lên một bước mới: mở rộng sự hiện diện và thiết lập hệ thống quản lý hành chính trên các bãi cạn nửa nổi nửa chìm mà họ đã mở rộng thành các đảo nhân tạo với hạ tầng thiết yếu cơ bản từ năm 2014.
Như vậy, Bắc Kinh ngày càng gia tăng mạnh các hoạt động: tuyên truyền, hành chính, luật pháp tới răn đe bằng sức mạnh, bất chấp luật pháp quốc tế. Không loại trừ bước tiếp theo Trung Quốc sẽ bao vây, buộc các nước rút khỏi các đảo và sẽ hợp pháp hóa ranh giới hành chính trên biển.
II. BÊN ÔNG LÁNG GIỀNG XẤU CHƠI
Âm mưu lớn, thủ đoạn thâm nhưng, trong bối cảnh hiện tại, không phải cái gì Trung Nam Hải muốn là đều được cả! Dù cố tình “đảo ngược luật pháp quốc tế một cách có chủ đích” nhưng Bắc Kinh chắc chắn sẽ không đạt được ý đồ!
Nhìn tổng thể có thể khẳng định: hiện nay Trung Quốc CHƯA MUỐN GÂY CHIẾN VỚI VIỆT NAM còn Việt Nam thì KHÔNG MUỐN CÓ CHIẾN TRANH. Song, dù có muốn hòa bình đến đâu, chúng ta phải cảnh giác, kiên cường và đặc biệt biết sử dụng “võ hiểm” để chống lại “anh hàng xóm khổng lồ” vốn ủ sẵn nhiều hơn “tam thập lục kế”!
1.Trước hết là xử lý ổn việc tranh chấp trên biển.
Chứng cứ lịch sử đã khẳng định: quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và vùng biển phụ cận là của Việt Nam nhưng do nhiều lý do mà từ thế kỷ trước và cho đến hiện nay, hai nước cùng cho Hải quân ra đóng giữ một số đảo, bãi đá ngầm ở Trường Sa mà hai bên cùng tuyên bố chủ quyền, còn Hoàng Sa đã bị Trung Quốc cưỡng chiếm bằng bạo lực từ 1974.
Do vậy vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa vốn thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam (đã lập 2 huyện đảo) thành “vùng biển tranh chấp”, đặc biệt “nóng” khi 4/2020 Trung Quốc tuyên bố lập 2 “quận đảo” thuộc thành phố Tam Sa chồng lên 2 huyện đảo của Việt Nam!
Cụ thể quận đảo Tây Sa 西沙郡chồng lên huyện đảo Hoàng Sa, quận đảo Nam Sa 南沙郡 chồng lên huyện đảo Trường Sa. Việc cho lập ra hai quận mới có đúng tên quần đảo họ tự nhận để muốn dư luận quốc tế và nhân dân Trung Quốc hiểu rằng quận Tây Sa quản lý quần đảo Tây Sa và quận Nam Sa quản lý vùng quần đảo Nam Sa là điều tự nhiên. Đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef, Trung Quốc gọi là Vĩnh Thử tiêu永暑礁) trước kia chỉ là một thực thể (bãi đá) chìm, năm 2014, nơi này bị Trung Quốc bồi lấp, cải tạo thành một đảo nhân tạo nổi với sân bay, đài radar, bến tàu và bây giờ, họ ngang nhiên biến nó thành nơi đặt trung tâm hành chính của quận Nam Sa.
 Thực là ngang ngược và phi lý!
Theo thông lệ và luật pháp quốc tế, việc xử lý tranh chấp lãnh thổ, vùng biển giữa các quốc gia thường theo ba giai đoạn từ thấp đến cao, là: Trao đổi song phương, đàm phán - Khởi kiện- Giải quyết bằng vũ trang.
Việt Nam với Trung Quốc đã đã tiến hành gặp mặt giữa các cơ quan hữu quan, lãnh đạo rồi họp, đàm phán rất nhiều lần, dựa trên đạo lý, truyền thống 2 nước và luật pháp quốc tế. Nhưng xem ra không ăn thua, hai bên cứ “đấu khẩu” nhau bằng tuyên bố mà trong đó vô số cái trái ngược từ phía Bắc Kinh.
Đáng chú ý, từ chỗ ghi trong tuyên bố, “xâm lược trên giấy” đến cưỡng chiếm một số đảo, bãi đá rồi xây dựng các công trình quân sự trên đó, tiến hành lập các đơn vị hành chính, cố tình tạo ra một sự đã rồi! Nguy hiểm là Bắc Kinh biết dựa vào đường chín đoạn 九段线 (Nine-dash line, đường lưỡi bò) thì thô thiển, yếu thế quá nên họ đã và đang thiết lập, đòi hỏi  yêu  sách Tứ Sa 四沙战略.
TỨ SA là chiến thuật mới thay thế đường lưỡi bò, khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với BỐN NHÓM ĐẢO: Đông Sa 东沙群岛 (quần đảo Pratas, hiện thuộc Cao Hùng 高雄市của Đài Loan 中華民國), Tây Sa 西沙群岛(Paracel Islands, tức quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam), Nam Sa 南沙群岛 (Spratly Islands, tức quần đảo Trường Sa hiện do sự chiếm đóng của Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Brunei, Malaysia, Philippines) và Trung Sa中沙群岛 (Macclesfield Bank, bãi san hô ngầm Macclesfield ở gần Philippines do Đài Loan và Trung Quốc tuyên bố chủ quyền). Đồng thời, Bắc Kinh cũng đòi quyền được hưởng vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý xung quanh bốn khu vực quần đảo này tương đương với việc GẦN NHƯ TOÀN BỘ BIỂN ĐÔNG SẼ THUỘC VỀ HỌ!
Dù là “đường lưỡi bò” trước kia hay “Tứ Sa” hiện nay cũng đều CHỈ LÀ BÌNH PHONG phục vụ cho việc CƯỚP CHIẾM BIỂN ĐÔNG mà đối thủ đáng gờm nhất của họ cũng là người thiệt hại chủ yếu nhất là Việt Nam.
  Hiện nay cả Việt Nam và Trung Quốc đã có Công hàm gửi Tổng Thư ký Liên Hợp quốc và chắc chắn sẽ là bước chuẩn bị tiến vào giai đoạn 2, khởi kiện.
2. Về việc Việt Nam khởi kiện Trung Quốc
Trong nước, để xét xử các vi phạm pháp luật, vi phạm hành chính, tranh chấp  giữa các bên có Tòa Hình sự, Tòa Kinh tế, Tòa Dân sự, Tòa Hành chính đãvoới bao thủ tục, yêu cần cần chấp hành do pháp luật quy định.
Trên thế giới, việc tranh chấp giữa các quốc gia, có thể được thụ lý bởi các tòa:
-Tòa án Quốc tế về Luật Biển, ITLOS (International Tribunal for the Law of the Sea), tiếng Pháp TIDM (Tribunal international du droit de la mer), là một tổ chức liên chính phủ tạo ra bởi sự ủy nhiệm của Hội nghị Liên Hiệp Quốc lần thứ ba về Luật Biển có trụ sở đóng tại Hamburg, CHLB Đức.
- Tòa án Công lý Quốc tế, ICJ (International Court of Justice) mà tiền thân là Toà án Thường trực Công lý Quốc tế (Permanent Court of International Justice). Tòa này thụ lý và giải quyết tranh chấp các vấn đề giữa các quốc gia thành viên có liên quan, cũng như làm công tác cố vấn pháp luật cho Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc và Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, có trụ sở đóng tại Den Haag (La Haye), Hà Lan.
-Tòa án Hình sự Quốc tế về Nam Tư cũ, ICTY (International Criminal Tribunal for the Former Yugoslavia). Đây là một cơ quan của Liên Hợp Quốc được thành lập để truy tố các tội phạm nghiêm trọng vi phạm trong các cuộc chiến tranh ở Nam Tư cũ, và xét xử các thủ phạm tội ác này; Tòa đặc biệt này được đặt tại La Haye, Hà Lan.
Như vậy, trên thực tế chỉ có 2 Tòa có thể thụ lý, phán xử về vấn đề đang bàn. Trong đó, Tòa án Công lý quốc tế (ICJ) giải quyết chủ quyền nhưng vấn đề chủ quyền phải qua Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc mà Trung Quốc lại là Ủy viên thường trực,  có quyền “phủ quyết” nên đương nhiên Việt Nam chả hy vọng được lợi gì khi kiện ra Tòa này.
Chúng ta chỉ còn lựa chọn duy nhất là học theo Philippines, tức kiện Trung Quốc vi phạm Công ước Liên hiệp quốc tế về Luật Biển (UNCLOS) 1982 trên Biển Đông ra Tòa Trọng Tài quốc tế (ITLOS)!
Nhưng phải chú ý rằng, trong hồ sơ gửi đi không nhắc đến “chủ quyền” bởi vấn đề này thuộc quyền phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế  mà kết quả Tòa này xử Trung Quốc thế nào ai cũng dễ đoán được! Hơn nữa nếu có chữ “chủ quyền” thì vô hình chung Việt Nam lại biến vùng biển của ta thành vùng biển tranh chấp!
3. Sử dụng võ hiểm Việt Nam
Tuy ngang ngược, nhưng là một quốc gia, Trung Quốc buộc cũng quan tâm đến dư luận quốc tế nhưng dư luận và sự chỉ trích chỉ có kèm hành động mới có tác dụng “răn đe” làm Trung Quốc “chột dạ” rồi “nhẹ tay” hơn! Đồng thời khả năng răn đe lại phụ thuộc vào tương quan lực lượng trong vùng, sự gắn kết và hợp tác của các nước liên quan. Trong đó, đáng chú ý là thái độ và hành động của “tứ giác kim cương” (QUAD, gồm Mỹ - Nhật - Ấn – Úc), là bộ tứ an ninh để kiềm tỏa sức ảnh hưởng và các hành động ngày càng lộng hành của Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Khi toàn thế giới đang dồn hết tâm trí vào việc đối phó đại dịch COVID-19 và các nước lớn lại thêm những lo lắng, phức tạp phải giải quyết ở trong nước, khu vực trong khi các quốc gia có “xung đột” trực tiếp với Trung Quốc trên Biên Đông chưa đủ mạnh thì Trung Quốc được đà lấn tới.
Xin đừng có mơ tưởng vào sức mạnh, sự “giúp đỡ” từ bên ngoài! Ta phải dựa vào ta là chính. Lịch sử đã chứng minh rằng chỉ khi Việt Nam đủ vững về kinh tế, mạnh về quân sự, khôn về ngoại giao, yên về đối nội thì ta mới có thể “buộc” kẻ thù phải kiêng nể dẫn đến thắng nó!
Giai đoạn thương lượng, đàm phán, đối thoại đã qua, giai đoạn khởi kiện chắc chắn sẽ khởi động! Chúng ta có kinh nghiệm về khởi kiện với Mỹ, nhưng với Tầu thì chưa! Song có lợi là chúng ta có lẽ phải và có thể học được Philippines! Nhưng nếu không có “hỗ trợ” từ “chiến trường” thì khó thắng kiện và dù có “thắng kiện” nhưng có buộc được Trung Quốc thi hành lại là chuyện khác!
Trung Quốc từng có phương châm nổi tiếng là “súng đẻ ra chính quyền” hơn nữa “Kẻ cướp không sợ lý lẽ nhưng phải sợ súng”! Mà “súng” tức xung đột bằng vũ trang trực diện thì Việt Nam không bằng Trung Quốc!
Khác với năm 1979, cuộc chiến nếu có giữa Việt Nam với Trung Quốc hiện nay là CUỘC CHIẾN TRÊN KHÔNG VÀ TRÊN BIỂN. Trong cuộc chiến đó ta không bằng họ về tiềm lực kinh tế, trang bị vũ khí, phương tiện và số lương binh sĩ. Đồng thời khi tác chiến trên biển và trên không, Việt Nam không thể áp dụng chiến tranh nhân dân và khó áp dụng chiến tranh du kích vốn là thế mạnh của Việt Nam khi tác chiến trên bộ.
Nhưng ta có lợi thế là có dải bờ biển dọc theo và vươn tới 2 quần đảo gần hơn còn Trung Quốc thì ở xa. Nếu ta có lực lượng Hải quân mạnh, được trang bị phương tiên cơ động và chiến đấu tốt sẽ nhanh chóng tiếp cận hiện trường! Hoặc như hệ thống “đất đốt hạm” mạnh, bố trí hợp lý thì vùng bảo vệ sẽ trong tầm kiểm soát bằng hỏa lực của ta! Bảo vệ chủ quyền là trách nhiệm của toàn dân nhưng trong vấn đề cụ thể này đó là nhiệm vụ của ngoại giao, của quân sự với sự chỉ dắt của đường lối đúng, cứng rắn nhưng mền dẻo, linh hoạt! Chứ cứ biểu tình, hô hào suông, chửi bới bậy,…chả được lợi gì!
Dù với phương cách nào, Việt Nam chắc chắn không để Trung Quốc “tự tung tự tác” hợp thức hóa, hợp pháp hóa, chính danh hóa, biến vùng biển của Việt Nam thành vùng biển tranh chấp rồi thành vùng sở hữu của họ. Cũng không để công cuộc bảo vệ chủ quyền thành leo thang xung đột, nhất là thành cuộc chiến quy mô lớn ảnh hưởng đến hòa bình, xây dựng và phát triển của Việt Nam và khu vực.
-         Lương Đức Mến, ngày Chiến thắng 30/4/2020-

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2020

Về MỘT “BẢN ĐỒ” CÓ TRÊN MXH

Vừa qua, có bạn tin tưởng vào một bản đồ (tôi gọi là BD1) có trên MXH và có ý đề xuất dùng nó làm biểu tượng trong chương trình Dự báo thời tiết.
Điều này, mới xem qua tôi đã không đồng ý và cho rằng người dùng đã bị “lỡm”,  vấp phải cái  sai vớ vẩn; đấy là chưa nói đến việc manh nha dấu hiệu vi phạm lỗi “đăng, phát, truyền đưa, sử dụng hình ảnh bản đồ Việt Nam không thể hiện đầy đủ hoặc thể hiện sai chủ quyền quốc gia” theo như Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP ngày 03 tháng 02 năm 2020 của Chính phủ “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử” có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 4 năm 2020.
1. Sau khi xem xét, tra cứu từ các nguồn tìm được, tôi xin khẳng định: tấm Bản đồ đó lấy từ bản “gốc” có chú thích “Thềm lục địa của Việt Nam có thể được đề-nghị Liên-Hiệp-Quốc chấp-nhận theo Hải-Đồ như sau” (tôi ghi là BD1), với người dùng Việt Nam chân chính là KHÔNG SỬ DỤNG được bởi:
1.1. Nó PHẢN KHOA HỌC khi đó là sự ghép bởi 12 bản đồ, lược đồ của các tác giả khác nhau ở dạng Ý TƯỞNG ĐỀ XUẤT, PHÊ PHÁN CHÍNH QUYỀN kéo dài nhiều năm trên những trang MXH. Cụ thể:
- Hình nền là lấy từ Sơ đồ đề xuất (CHƯA CÓ) mà tôi gọi là BD10 (chú thích gốc: “Lănh-hải và Hải-phận Đặc-Quyền Kinh-Tế của Việt-Nam”), dán thêm bản đồ hành chính Việt Nam (đã có nhưng KHÔNG CẬP NHẬT, BD11) vào;
- Các hình minh họa ở 2 cạnh bên và cạnh dưới là lấy từ các Sơ đồ mà tôi ký hiệu là BD12 (chú thích gốc: “Bản đồ các lô dầu khí VN”), BD13 (chú thích gốc: “Có lẽ những đường vẽ nằm phía ngoài cùng (bao trùm hải-phận hai Quần-đảo Hoàng-Sa Trường Sa), cho Việt-Nam một vùng hải-phận ĐQKT lớn nhất, lên tới 1 triệu km2(?)), BD14 (chú thích gốc: “Một đề-nghị phân-chia Hải-phận Biển Đông (200hl và rộng hơn) theo Tiến-sĩ Mark J. Valencia. Việt-Nam có vùng Đặc-quyền Kinh-tế EEZ rộng 722,338 km2.), BD15 (chú thích gốc: “”), BD161 (chú thích gốc: “Biểu-thị Nội-hải, Lănh-hải, Vùng ĐQKT chuẩn, Vùng ĐQKT nối dài ra 350 hl. và Thềm lục địa theo 2 tài-liệu:Trái: Quốc-gia Úc-Đại-Lợi”, Phải: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia), BD162 (chú thích gốc: “Biển Đông, thiết-đồ đáy biển và thềm lục-địa (200m.) Từ bờ Việt-Nam, đáy biển chạy thoai-thoải ra khơi. (H́nh của Nguyễn-Khắc-Ngữ, 1981.)), BD17 (chú thích gốc: “Bản-Đồ Hải-Phận Biển Đông của Tiến-Sĩ Mark Valencia (Viện Nghiên-Cứu Đông-Tây – Hawaii)”), BD18 (chú thích gốc: “Vùng biển Trung-Cộng cướp đoạt và Việt-Công kư-kết chấp-nhận. Trước đây, năm 1887đă có đường Đỏ (KT 108 độ 03' Đông) phân-chia.Theo Luật Biển th́ ranh-giới là trung-tuyến giữa hai bờ biển (và giữa 2 đảo Bạch-Long-Vĩ / Hải-Nam). Trung-Cộng không cần luật-lệ, nay đă lấn sâu vào sát đất liền Việt-Nam (đường 21 điểm)”), BD19 (chú thích gốc: “Sự bất-công trong việc chia cắt Hải-phận Đặc-Quyền Kinh-Tế tại Vịnh Bắc-Việt”). Trong đó có một số sơ đồ người Việt Hải ngoại vẽ, có cái do người nước ngoài vẽ, có cái của cơ quan chức năng Việt Nam…rải rác trong nhiều năm (từ 2008 đến 2019 ?) mà trong đó có những chi tiết, số liệu KHÔNG CÓ NGUỒN RÕ RÀNG, KHÓ KIỂM CHỨNG!

1.2. Mục đích dựng cái “bản đồ” này có ý  BÔI XẤU CHÍNH QUYỀN. Cụ thể:
-Nhằm chứng tỏ việc VẼ BẢN ĐỒ HẢI PHẬN (CÓ BIÊN GIỚI TRÊN BIỂN) là không khó, cá nhân ngồi tại phòng lạnh cũng thực hiện được;
-Nhưng phía chính quyền CHXHCN Việt Nam  CHƯA TỪNG TỔ CHỨC VẼ BẢN ĐỒ HẢI PHẬN, tức là đã KHÔNG LẬP MỐI LIÊN HỆ GIỮA DIỆN TÍCH 329.560 Km2 ĐẤT LIỀN VÀ 1.000.000 Km2 BIỂN!
Từ đó quy cho Nhà nước ta THIẾU TRÁCH NHIỆM!
1.3. Nhưng chính BD1 đó tuy “sử dụng hình ảnh bản đồ Việt Nam có thể hiện chủ quyền quốc gia” nhưng đã “THỂ HIỆN SAI CHỦ QUYỀN QUỐC GIA” trên vùng biển đồng thời nó KHÔNG CẬP NHẬT tình hình địa giới phân chia cấp hành chính hiện tại! Phóng to lên sẽ rõ, không phân tích sâu vì như thế nội dung sẽ quá dài! Vì vậy, ĐÓ LÀ TẤM BẢN ĐỒ KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ khi sử dụng để đấu tranh đòi chủ quyền!
1.4. Đồng thời, chữ viết trên bản đồ không chuẩn với quy tắc chính tả mà Bộ Nội vụ CHXHCN Việt Nam đã ban hành. Cụ thể ở Việt Nam hiện nay:
 -Trong các văn bản Nhà nước không viết “Đất Nước và Hải-Phận Việt-Nam” (chú ý viết Hoa và gạch nối);
- Chú thích thống nhất về ngôn ngữ trong một văn bản (ở đây ngược lại giữa các sơ đồ “thành viên”, cái Anh, cái Việt);
-Trong các văn bản Nhà nước không dùng danh xưng “Cambod”, “Nam Dương”.
Hơn nữa, bản đồ trên không đúng về việc quản lý; thành lập, cập nhật bộ bản đồ chuẩn biên giới quốc gia; xây dựng cơ sở dữ liệu địa lý; thành lập bản đồ; sản xuất xuất bản phẩm bản đồ có thể hiện đường biên giới quốc gia, chủ quyền lãnh thổ quốc gia so với Thông tư Số: 17/2018/TT-BTNMT ngày 31 tháng 10 năm 2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định kỹ thuật thành lập, cập nhật bộ bản đồ chuẩn biên giới quốc gia và thể hiện đường biên giới quốc gia, chủ quyền lãnh thổ quốc gia trên các sản phẩm đo đạc và bản đồ, xuất bản phẩm bản đồ.
2. Những Bản đồ, Sơ đồ “cấu tạo” nên cái gọi là bản đồ” (tôi ký hiệu là BD1) tôi đã tải về và lưu lại (ký hiệu là BD10, BD12, BD13, BD14, BD15, BD161, BD162, BD17, BD18, BD19 trừ BĐHC Việt Nam tuy đặt ký hiệu là BD11 nhưng không tải lưu bởi đâu cũng có) đã “dán” ở cuối bài. Ai “thích” sẽ tự sắp xếp thành BD1 để tự kiểm chứng.
Đây là vấn đề HOÀN TOÀN KHOA HỌC, phân biệt ĐÚNG-SAI không khó nhưng hữu ích để thêm CÁI NHÌN TOÀN DIỆN KHI SỬ DỤNG TƯ LIỆU TRÊN MXH, chứ  không để phê phán, chê trách người đã tin, sử dụng nó!
3. Xin nhắc lại một nguyên tắc: việc xác lập chủ quyền là của Nhà nước chứ không phải của dân, người dân cần đấu tranh chống các thế lực lợi dụng chống phá nhà nước, chế độ. Do vậy, phải sử dụng tư liệu có nguồn gốc rõ ràng, chính thống, thành lập theo đúng quy định của cơ quan có thàm quyền dù với lý do yêu nước, ý thức toàn vẹn lãnh thổ !.
Đồng thời những bản đồ đang sử dụng trên chương trình Dự báo thời tiết của VTV đã phản ánh đầy đủ chủ quyền quốc gia nên KHÔNG CẦN THIẾT PHẢI THAY, nhất là lại thay bằng cái KHÔNG CHÍNH THỐNG, KHÔNG KHOA HỌC, được chế tác ra với MỤC ĐÍCH KHÔNG TRONG SÁNG.
Vì không muốn gặp phiền phức không đáng có khi “đôi co” với những người, trang “Hải ngoại” đã tạo ra cái BD1 nên tôi không đưa lên MXH mà chỉ chia sẻ và có phân tích với một vài bạn thân biết để góp phần cùng nhau có cái nhìn toàn diện, chính xác hơn, tránh mắc lỡm và vô tình tiếp tay cho cái sai khi khai thác thông tin từ MXH! Đồng thời lưu tại trang nhà để nhớ!
-         Lương Đức Mến, 22/4/2020, BS từ nhiều nguồn tham khảo-

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Ba, 21 tháng 4, 2020

Về NHỮNG TUYÊN BỐ, HÀNH ĐỘNG NGANG NGƯỢC, PHÍ LÝ

Những người chân chính, có chút hiểu biết đều biết rằng Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam và những tuyên bố, hành động của nhà cầm quyền Bắc Kinh về chủ quyền của họ dối với Hoàng Sa, Trường Sa rõ ràng là ngang ngược, phí lý.
Trong những ngày “nước sôi lửa bỏng”, cả thế giới đang dồn sức chống đại dịch Covid-19 thì Trung Quốc lại giở trò và có bước leo thang mới càng lộ rõ dã tâm “bành trướng” của họ.
Lịch sử xa xưa, hãy cứ để cho nó tồn tại như đã tồn tại và để các nhà nghiên cứu tìm tòi, phán xét. Thảo dân thấy cần nêu mấy vấn đề sau.
I. NHẮC LẠI MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHÍNH TRONG UNCLOS
UNCLOS là chữ viết tắt của United Nations Convention on the Law Of  the Sea tức là  Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển năm 1982, có hiệu lực từ ngày 16/11/1994. Một số nội dung cần nắm trong luật này khi tìm hiểu và lên án, vạch trần những vi phạm của Trung Quốc về cái gọi là “chủ quyền” trên các đảo ở Biển Đông:
1. Đường cơ sở (baseline): Do quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo (Philippines, Indonesia, Nhật Bản, v.v...) định ra phù hợp với Công ước, dùng làm căn bản để xác định các vùng biển có chủ quyền. Có hai loại đường cơ sở:
-Đường cơ sở thông thường (Normal baseline) là mức thủy triều trung bình trong nhiều năm ở lúc thấp nhất. Dù đường cơ sở này phản ảnh đúng đắn, tuy nhiên khó áp dụng trong thực tế nên ít có quốc gia nào áp dụng phương pháp này.
- Đường cơ sở thẳng (Straight baselines) là những đoạn thẳng nối những điểm ngoài cùng của  lãnh thổ ra hướng biển, khi thủy triều trung bình trong nhiều năm ở lúc thấp nhất. Đây là phương pháp phổ biến nhất mà các quốc gia áp dụng. Việt Nam hiện đang áp dụng phương pháp này với 11 điểm nối các đoạn thẳng thành đường cơ sở.
Đường cơ sở dùng làm căn bản để phân định các vùng biển khác liên quan đến chủ quyền của  một quốc gia.
Nội thủy (internal waters) là vùng biển từ đường cơ sở đến lãnh thổ của quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo.
2. Lãnh hải (territorial sea): Khoảng cách 12 hải lý từ đường cơ sở ra hướng biển cả là vùng lãnh hải, quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo có hoàn toàn chủ quyền về vùng biển này, tuy nhiên không tuyệt đối. Tàu bè dân sự được hưởng quyền “qua lại không gây hại” (Innocent passage) .
3. Vùng tiếp giáp lãnh hải (contiguous zone) Khoảng cách 24 hải lý từ đường cơ sở ra hướng biển cả và khoảng cách 12 hải lý từ vùng lãnh hải. Quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo có thể thi hành sự kiểm soát cần thiết, để ngăn ngừa những vi phạm đối với các luật và quy định hải cảng, thuế khóa, y tế hay nhập cư.
4. Vùng độc quyền kinh tế (Exclusive Economic Zone - EEZ) Khoảng cách không quá 200 hải lý từ đường cơ sở ra hướng biển cả. Quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo có quyền quản trị, khai thác tài nguyên thiên nhiên trong lòng biển cũng như đáy biển, có quyền thiết lập và sử dụng các đảo nhân tạo, các hệ thống máy móc và các công trình kiến trúc trong vùng EEZ- có quyền nghiên cứu về khoa học biển- bảo vệ và giữ gìn và  môi trường biển. Khi có tranh chấp về việc chồng lấn về vùng EEZ thì việc này “phải được giải quyết trên căn bản công bằng và chú ý đến tất cả mọi hoàn cảnh thích đáng” .   
5. Thềm lục địa (continental shelf)
Thềm Lục-địa giới-hạn theo UNCLOS bởi một trong những điều kiện sau:
- Đường giới hạn
+ Khoảng cách không quá 350 hải lý từ đường cơ sở ra hướng biển cả.
+ Cách 100 hải lý đường nối liền  các điểm có độ sâu 2500 m
- Đường công thức:
+ Theo cách Hedberg:  Từ đường nối các điểm chân dốc thềm lục địa (foot of continental slope) không quá 60 hải lý.
+ Theo cách Gardiner:  Từ đường nối các điểm nới có độ dày đá trầm tích (Sediment thickness) 1%,  không quá 60 hải lý.
Nếu rìa lục địa theo tính cách địa lý nằm dưới khoảng cách 200 hải lý từ đường cơ sở, thì thềm lục địa theo tính cách pháp lý là 200 hải lý tính từ đường cơ sở. 
Các quốc gia ven biển có thể kết hợp các cách thức trên để có lợi nhất cho mình. Quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo có thể thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên trong lòng biển cũng như đáy biển trong vùng Thềm Lục Địa theo tính cách pháp lý.
(Xem A1)
II. QUYỀN VÀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM
1.Tài liệu lịch sử của Việt Nam và thế giới, kể cả của Trung Quốc đều chứng tỏ rằng: Việt Nam đã chiếm hữu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ nhiều thế kỷ trước.
Đặc biệt, trong khi tập trung mọi cố gắng để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, ngày 4/4/1975 Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có bản Mật lệnh số 990B/TK gửi Chính ủy Quân khu 5 và nhiệm vụ thiêng liêng GIẢI PHÓNG TRƯỜNG SA được giao cho Đoàn 125 và Đoàn đặc công 126. Đúng 5 giờ sáng 14/4/1975, cờ Giải phóng tung bay trên đảo Song Tử Tây!. Việt Nam thực sự làm chủ Trường Sa.
2. Những lần cải cách hành chính từ sau khi đất nước thống nhất đến nay, không khi nào Chính phủ Việt Nam không chú ý đến 2 quần đảo này. Gần đây nhất:
-Huyện đảo Hoàng Sa, được thành lập từ tháng 01/1997, thuộc thành phố Đà Nẵng, bao gồm các đảo: đảo Hoàng Sa, đá Bắc, đảo Hữu Nhật, đảo Đá Lồi, đảo Bạch Quy, đảo Tri Tôn, đảo Cây, đảo Bắc, đảo Giữa, đảo Nam, đảo Phú Lâm, đảo Linh Côn, đảo Quang Hòa, cồn Bông Bay, cồn Quan Sát, cồn cát Tây, đá Chim Yến.
- Ngày 11/4/2007, Chính phủ Việt Nam thành lập thị trấn Trường Sa và hai xã Song Tử Tây và Sinh Tồn thuộc huyện Trường Sa. Các thị trấn và xã này được thành lập trên cơ sở các hòn đảo cùng tên và các đảo, đá, bãi phụ cận. Với Trường Sa, LLHQ ta đã kiên cường, khắc phục mọi khó khăn để chốt giữ, bảo vệ chủ quyền, bảo vệ ngư dân. (A2)
III. TRUNG QUỐC VÀ SỰ LEO THANG NGANG NGƯỢC.
1.Tư liệu lịch sử chính thống của các nước đều minh chứng: Trung Quốc chưa từng chiếm hữu bất cứ lãnh thổ nào ở biển Đông, kể từ đầu thế kỷ 20 trở về trước. Bản đồ của Trung Hoa thời nhà Thanh, điểm cực nam chỉ tới hết đảo Hải Nam.
Cái gọi là Đường chín đoạn九段线, còn gọi là Đường lưỡi bò, Đường chữ U, Đường chín khúc, là tên gọi dùng để chỉ đường quốc giới hải vực Biển Đông mà Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) chủ trương và đơn phương tuyên bố chủ quyền và cũng “mới” xuất hiện từ 1959. Hơn nữa, “đường lỡi bò” này mới được Chính phủ Trung Hoa Dân quốc中華民國của Tưởng (蔣中正, 1887-1975) công bố vào tháng 12/1947. Đồng thời tới ngày 01/12/1957, Tưởng Giới Thạch ký sắc lệnh là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung Hoa Dân Quốc và đặt tên các đảo bằng chữ Hán.
2. Cái “thâm” của Trung Nam Hải là ủ mưu từ rất lâu và thực thi việc gặm nhấm khá bài bản.
-Mở đầu, giữa lúc Việt Nam vừa bước ra khỏi cuộc kháng chiến 9 năm, đang tạp trung đáu tranh thống nhất đất nước, cần tranh thủ sự ủng hộ, viện trợ của Trung Quốc thì  ngày 04/9/1958 Chính phủ Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra tuyên bố về lãnh (A3) trong đó đã nêu: “Chiều rộng lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Ðông Sa东沙群岛, quần đảo Tây Sa西沙群岛, quần đảo Trung Sa中沙群岛, quần đảo Nam Sa 南沙群岛, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.”
-Sau đó, ngày 19/01/1974, Trung Quốc đã chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của VNCH  bằng vũ lực và hiện đang chiếm đóng quần đảo này đến ngày nay.
-Ngày 25 tháng 4 năm 1983, Nhân dân Nhật báo của Trung Quốc đã công khai danh sách 287 địa danh thuộc biển Đông, trong đó có tổng cộng 193 địa danh liên quan đến quần đảo Nam Sa (tức Trường Sa của Việt Nam). Từ đó, Việt Nam và Trung Quốc có đụng độ vũ trang trên biển về quyền kiểm soát đá Gạc Ma, đá Cô Lin và đá Len Đao thuộc quần đảo Trường Sa.
-Cao điểm là sáng ngày 14 tháng 3 năm 1988, Trung Quốc đổ quân tấn công Hải Quân Việt Nam đáng bảo vệ và xây dựng công trình trên các bãi đá. Do ưu thế vượt trội về quân số và hỏa lực, Trương Quốc đã chiếm được bãi đá Gạc Ma. Do vậy trận này thường được gọi là Chiến dịch CQ-88 (Chủ quyền-88) còn tài liệu Trung Quốc gọi là Xích Qua tiêu hải chiến 赤瓜礁海战, Nam Sa chi chiến 南沙之戰  hoặc "3·14" hải chiến ("3·14"海战).
3. Từ đó cho đến hiện nay, hai nước cùng cho hải quân ra đóng giữ một số đá ngầm khác mà hai bên cùng tuyên bố chủ quyền.
Ngày 24/7/2012 Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 中华人民共和国 tuyên bộ thành lập một thành phố cấp địa khu 地区级là Tam Sa 三沙市trụ sở đặt tại đảo Phú Lâm (nhóm đảo An Vĩnh Amphitrite Group) Trung Quốc gọi là Vĩnh Hưng永興島) để quản lý một khu vực trên Biển Đông mà nhiều nước đang tranh chấp chủ quyền, bao gồm:
-Quần đảo Hoàng Sa Paracel Islands (Trung Quốc gọi là quần đảo Tây Sa西沙群岛),
-Quần đảo Trường Sa Spratly Islands (Trung Quốc gọi là quần đảo Nam Sa南沙群島), bãi Macclesfield (A: Macclesfield Bank, H: 中沙群岛)
- và bãi cạn Scarborough (A: Scarborough Shoal, H: Hoàng Nham đảo黄岩岛) mà Trung Quốc gọi chung là quần đảo Trung Sa 中沙群岛) cùng vùng biển xung quanh.
Theo phân cấp hành chính của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Tam Sa là một địa cấp thị地级市 thuộc tỉnh Hải Nam 海南.
4. Gần đây nhất, hôm thứ Bảy ngày 18/4/2020 vừa qua, Bộ Dân chính  民政部Trung Quốc thông báo: Quốc vụ viện (国务院, chính phủ) gần đây đã phê chuẩn việc thành lập các quận đảo Tây Sa 西沙郡 và Nam Sa 南沙郡 thuộc thành phố Tam Sa, tỉnh Hải Nam. Liền sau đó, Bộ Dân chính Trung Quốc ngang nhiên tự tiện công bố cái gọi là 'danh xưng tiêu chuẩn' của hàng chục đảo, bãi cạn trên Biển Đông, bao gồm những thực thể nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam. (A4)
Trung Quốc thông báo sẽ “đặt” quận lị “quận Tây Sa” tại đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa, còn “quận Nam Sa” đặt  trên đá Chữ Thập Fiery Cross Reef (Trung Quốc gọi là Vĩnh Thử tiêu永暑礁) , một rạn san hô thuộc cụm Nam Yết của quần đảo Trường Sa.
Như vậy cả 2 “quận lị” của 2 “quận đảo” do Trung Quốc ngang ngược tuyên bố thành lập đều nằm trên 2 huyện đảo của Việt Nam. Trong lịch sử, đảo Phú Lâm mới được Trung Hoa Dân Quốc (do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo) lấy lý do giải giới quân Nhật (đã rút khỏi đây từ trước), mang quân lên chiếm đóng vào ngày 13/7/1947 và đã rút khỏi đây từ 04/1950.
IV. CHÂN LÝ SẼ THẮNG
Với lợi thế “đất rộng người đông”, Trung Quốc đã trỗi dậy nhanh chóng cả về tiềm lực kinh tế và sức mạnh quân sự.
Việt Nam có lẽ phải đấy nhưng việc lấy lại Hoàng Sa và một số đảo, bãi đá ngầm thuộc Trường Sa bằng sức mạnh quân sự lúc này là không thể! Nhưng thế lực xấu ra rả đòi “đánh”, nhưng uýnh thế nào, uýnh bẳng cái gì thì chúng lảng!
Việc tụ tập, biểu tình hô hào, “đả đảo”, tăng cường “chửi bới” trên MXH nếu thực tâm, thực sự yêu nước, có trách nhiệm thì cũng chỉ là cách thể hiện thôi chứ lời chọc gậy đâu dùng làm “mưu lược nhà binh”? Mấy băng rôn sao xua quân bành trướng!
Giữa những lúc như thế này, lòng dân phải càng được quy tụ, tin vào sự lãnh đạo, sự chèo lái của Trung ương! Chúng ta có quyền hiến kế nhưng phải đúng lúc, đúng nơi.
Có lẽ hơn lúc nào hết, sức mạnh của cả hệ thống, cuộc chiến tranh nhân dân lại cần được phát huy, tất nhiên trên tầm cao mới! Bám biển, giữ đảo, đó là yêu cầu, là lẽ sống! Biển của ta, đảo của ta, tầu của ta,…sao không được đầu tư, trang bị tốt hơn, đủ sức giữ biển, giữ đảo, hành nghề và đập tan, đuổi bọn gây hấn cút ra xa.
Bài học của những Chi Lăng, Bạch Đằng Giang, Đống Đa, Điện Biên Phủ, Đại thắng mùa Xuân xưa không bao giờ cũ!

-         Lương Đức Mến, 22/4/2020 (sưu tầm và biên soạn, BĐ lấy trên mạng-

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Hai, 23 tháng 3, 2020

TAY VÀ “ỒN”


Độ rày Ti, Báo dập dỒN:
Luôn câu “chống dịch phải cỒN xoa tay”.
Rời nhà vợ đã nhắn ngay:
Chỗ đông phải nhớ lấy tay xoa cỒN!
Đến cơ quan, lính nhắc luôn:
Xin mời quan sếp lấy cỒN xoa tay.
Về nhà chưa kịp cởi giầy,
Em yêu đã bảo đưa tay xoa cỒN!
Ghé sang hàng xóm định “buôn”,
Cô bên ấy nhắc phải cỒN xoa tay!
Về nhà đang định “lên mây”
Vợ già tưng tửng: dí tay vào cỒN!
Tức mình, bật máy tính bàn,
Lù lù lời nhắn: đây cỒN xoa tay.
Nhớ ra cái lúc mới đây,
Gặp cô bạn cũ quên tay xoa cỒN!

Bao giờ đuổi hết con ôn
Để tay đỡ phải cứ cỒN xoa tay?
Hay là trót nghiện vần này,
Thì ta vẫn cứ lấy tay xoa ỒN!

-         Lương Đức Mến, ngày đỉnh dịch?-

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2020

ANH ẤN VÀO


Chuyện anh cu Ấn làng tôi,
Có cô vợ đẹp, vốn người lẳng Lơ.
Mỗi khi chồng bước khỏi nhà,
Lại đưa trai lạ đến mà mây mưa.

Một hôm đang buổi ban trưa,
Anh chồng bất chợt về qua lấy tiền.
Cô Lơ trông thấy trước tiên,
Ghé thầm bảo bạn: “Ấn liền về kia”.

Ông trên tưởng bạn giục, chê
Tức thì thọc mạnh như là mọi khi.
Cô nàng lại nhắc “ấn kìa”!
Anh bạn tức tốc dập dề càng mau.

“Ấn vào”, Lơ lại một câu,
Anh bạn bực quát: “ấn đầu cha mi,
Đang làm cũng như mọi khi,
Ra rồi còn cứt mà đè ấn vô”!.

Anh Ấn đã vào đến nhà,
Bực mình hét lớn: “ấn bà chúng bây!”.
Cả hai phách lạc, hồn bay
“Cúi xin anh Ấn, từ nay ấn chừa!”

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...