Chào mừng bạn đã ghé thăm,
Chúc bạn Vui, Khỏe, quanh năm Phát tài.
Nỗi niềm muốn nối vòng dài,
Kết giao muôn nẻo, tương lai nối gần.
-*-
Địa chỉ: SN 328 đường Hoàng Liên, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
ĐT DĐ: 0913 089 230 - Email: luongducmen@gmail.com.

Thứ Sáu, 29 tháng 9, 2017

Tìm hiểu CHỮ "THỌ"

Nhân chuẩn bị đến ngày QUỐC TẾ NGƯỜI CAO TUỔI (01/10)[1], thử bàn về chữ “THỌ” viết bởi Hán tự ().
Tự điển Thiều Chửu có tới 5 chữ ghi âm Thọ, là: , ,寿, ,  trong đó 3 chữ đầu đều thuộc bộ Sĩ, có nghĩa là “lâu dài, sống lâu”, chữ  bộ Trảo  là “chịu nhận lấy, vâng mệnh”, chữ thứ năm thuộc bộ Mộc, có nghĩa là “cây, gây dựng”. Ta nghiên cứu chữ “thọ” đầu tiên : .
1. Về chữ THỌ:
1.1. Đại cương:
Chữ Thọ  có 14 nét thuộc bộ sĩ  ; Về ngũ hành, nó thuộc Kim ; có thiết âm là 殖酉切 (thực dậu thiết) và có code là U+58FD.
1.2. Cấu thành:
 Ngoài bộ Sĩ , chữ  thêm 4 yếu tố hợp thành là các chữ Nhị , Công , Khẩu  và Thốn . Ý nghĩa như sau:
- Điều đầu tiên muốn sống lâu thì bộ óc luôn luôn phải suy nghĩ, tìm tòi sáng tạo bởi chữ Sĩ  nghĩa đen là học trò, hiểu rộng ra là kiến thức. Người già càng lắm kinh nghiệm và ngày nay, có quan điểm xây dựng một xã hội học tập và học tập suốt đời bởi tri thức luôn thay đổi, cần được cập nhật.
- Chữ Nhị , nghĩa đen là hai, hiểu rộng ra là quan hệ giao lưu qua lại. Người già cần thường xuyên giao tiếp, giúp nâng cao năng lực tư duy, giải tỏa những mắc mớ làm cho đầu óc thanh thản, tăng cường giao lưu để có nhiều bạn mới, có cơ hội gặp nhau thường xuyên, sống vui vẻ, có ích. Như thế sẽ ít bệnh tật hơn.
- Chữ Công , nghĩa là vận động. Người già không nên trơ, ì mà cần vận động theo sức lực của mình, giúp cho mạch máu được đàn hồi, không xơ cứng. Khi đó máu dễ lưu thông đến nuôi các tế bào trong cơ thể, nhất là bộ não sẽ không bị “lão hóa” nhanh. Thể dục dưỡng sinh chính là nhằm mục đích này. Nhà Phật cho rằng không phiền não, không sát sanh hại vật, phải làm nhiều việc Phúc đức thì tuổi thọ mới tăng.
- Chữ Khẩu , nghĩa là miệng. Ở đây thể hiện điều ăn, tiếng nói của người già,  bao hàm ý “ăn bớt bát, nói bớt lời” hay câu “tai họa từ mồm mà ra, bệnh tật từ mồm mà vào”. Muốn được THỌ thì ăn uống phải điều độ, hạn chế thịt cá vì khó tiêu, không nên ăn no, tuyệt đối không dùng những chất có độc hại nguy hiểm như ma tuý, hạn chế bia rượu, thuốc lá...Lời người già rất quan trọng, thường được mọi người lưu tâm, coi trọng nghe theo nên không phát ngôn lung tung.
- Chữ cuối cùng là chữ Thốn  còn đọc là “tấc”, gồm 10 phân, nghĩa rộng là sự đo đếm, là mực thước, là định lượng các hoạt động ở một mức thích hợp cho từng người chứ không phải cho tất cả mọi người. Tuổi thọ càng tăng thì càng phải làm người mẫu mực trong gia đình và dòng họ để giáo dục con cháu nên người.
1.3. Hạn chế của chữ giản thể:
Từ 1950s Trung Quốc đại lục sử dụng chữ giản thể 简体 nên chữ THỌ bằng Hán tự từ 14 nét  (4 chữ ghép lại như đã viết ở trên), có code: U+58FD chỉ còn 7 nét 寿 (3 nét của bộ “thốn” và 4 nét của chữ “phong” ) và mang code: U+5BFF! Như vậy chữ “thọ” đã:
- Mất đi 7 nét nói vui là giảm đi một nửa số tuổi! Chữ “thọ” giản thể 寿 bị ăn bớt nét cũng như cắt giảm tuổi thọ người ta vậy nên khi mừng thọ ai, tặng chữ người phải viết kiểu chữ phồn thế đủ 14 nét !
- Chữ này thuộc dạng hội ý 会意nguyên gốc chữ  thể hiện người già (thọ) là người “hiểu rộng, nhiều kinh nghiệm”, cần giao lưu, vận động, phát ngôn,...muốn sống thọ, phải học, phải làm việc, phải trao đổi bằng lời nói, phải biết tính toán... mới được gọi là “thọ”! Khi chuyển sang chữ giản thể ý nghĩa đó mất đi, chữ 寿 chỉ người cao tuổi trở thành người “đo đếm, cân nhắc”, có thể là những người không chịu học, không làm việc, suy nghĩ...Như thế sao gọi là “thọ” được!   
- Nghĩa cơ bản là lâu dài, có tuổi; nó còn dùng để chỉ ngày sinh hay “Chúc”, đời xưa đem vàng lụa tặng cho người tôn kính hay lấy rượu mà chuốc. Do vậy có câu “Thọ khảo vĩnh trường” (壽考永長, Già cả sống rất lâu dài), mở rộng ra có câu “Thọ quốc mạch” (壽國脈, Quốc gia trường tồn)
- Từ đó sinh ra “Thọ chung” (H: 壽終,  A: To die, P: Mourir) là hết tuổi thọ, tức chết; “Thọ đường” (H: 壽堂, A: The coffin, P: Le cerceuil) là nhà giành cho người già, tức áo quan sắm sẵn cho người cao tuổi
Vì ý nghĩa đó nên chữ “Thọ” xuất hiện nhiều trong kiến trúc từ cung điện, tư gia của các bậc vương giả cho tới những ngôi nhà bình dân.
Những cách điệu chữ Thọ vuông hay tròn được xử lý qua những đường thẳng, cong, khỏe mạnh, cân xứng cho hiệu quả thẩm mỹ cao nhất khi được phóng lớn trên các bức tường hoặc cửa sổ. Những chữ Thọ uốn lượn cầu kỳ theo mô tuýp trang trí vân mây, hoa lá... tỏ ra thích hợp hơn trong các điêu khắc, chạm trổ trên gỗ hoặc đồng. Những chi tiết nhỏ hơn như đèn tường, chiếc rèm hay những vỏ gối cũng có sự hiện diện của chữ Thọ.
Muốn khôn phải học suốt đời, ()
Đừng sống khép kín luôn người có đôi. ()
Miệng ăn, nói phải giữ lời, ()
Lại luôn vận động nên người dẻo dai. ()
Sống mực thước, chẳng đơn sai, ()
Ấy là chữ Thọ, muôn đời ước mong. ().

- Lương Đức Mến, 29/9/2017-



[1] * Ngày 14 tháng 12 năm 1990 Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc đã bỏ phiếu tán thành việc lấy ngày 1 tháng 10 hàng năm làm ngày quốc tế người cao tuổi, như đã được ghi trong Nghị quyết 45/106. Ngày quốc tế người cao tuổi đầu tiên được tiến hành vào ngày 01/10/1991.
* Sau khi bôn ba, ngày 28/1/1941 lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng ViệtNam. Người đã thành lập Việt Nam độc lập đồng minh Hội (Mặt trận Việt Minh) vào ngày 19/5/1941. Sau đó, ngày 6/6/1941, Người viết bài “Kính cáo đồng bào”, kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian, cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng” và trong đó, Người đã đặt người cao tuổi lên vị trí hàng đầu trong các tầng lớp nhân dân. Làm theo lời kêu gọi đó, các thế hệ người cao tuổi Việt Nam đã đem hết trí tuệ, tài năng và cả xương máu của mình vào cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc, toàn vẹn lãnh thổ và thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Người cao tuổi hoàn toàn xứng đáng với 18 chữ vàng của BCH Trung ương Đảng tặng: “Tuổi cao chí càng cao, nêu gương sáng vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Với ý nghĩa to lớn và sâu sắc đó của lời kêu gọi “Kính cáo đồng bào”, để phát huy vai trò và truyền thống của người cao tuổi, động viên người cao tuổi vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ngày 26 tháng 3 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định lấy ngày 06 tháng 6 hàng năm là “Ngày truyền thống người cao tuổi Việt Nam”.
Điều 6 Luật Người cao tuổi Số: 39/2009/QH12 quy định: Ngày 06 tháng 6 hằng năm là Ngày người cao tuổi Việt Nam.

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Năm, 28 tháng 9, 2017

Hiểu thế nào câu: "GIẶC BÊN NGÔ KHÔNG BẰNG BÀ CÔ BÊN CHỒNG"

Hầu như người Việt nào cũng biết câu “Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng” và hầu hết đều hiểu câu này có nghĩa là: giặc bên Tàu kéo sang, cũng không độc ác, đáng sợ bằng các cô chị cô em của chồng.
Hiểu vậy không sai, nhưng theo tôi chưa đầy đủ và không đúng với thực tế ngay trong họ nhà tôi.
Để hiểu thấu đáo câu này cần làm rõ 3 vấn đề:
1. GIẶC BÊN NGÔ:
1.1. Đất Ngô (chỉ vùng miền nam tỉnh Giang Tô và miền bắc tỉnh Chiết Giang bên Trung Quốc). Trong lịch sử Trung Hoa, có 3 tiểu quốc mang danh "Ngô" thường được nhắc đến. Đó là:
- Ngô quốc 吴國 là một Vương quốc chư hầu của nhà Chu (周朝, 1122 tCn–249 tCn) nằm ở khu vực cửa sông Dương Tử 扬子 được thành lập từ TK 12 tCn bởi Ngô Thái Bá 吳泰伯. Sau này, trong thời Đông Chu liệt quốc (東周列國, 770 tCn–256 tCn) dưới sự trị vì của Phù Sai (吳夫差, 495 tCn-473tCn) bị diệt bởi nước Việt (越國, ?-223 tCn) của Việt Vương Câu Tiễn (越王句踐, 496 tCn – 465 tCn).
- Đông Ngô (東吳, 222–280) là một trong 3 quốc gia thời Tam Quốc (三國, 220-280) được hình thành vào cuối thời Đông Hán (東漢, 25-220) bởi Tôn Quyền (孫權, 182 – 252). Trong thời Bắc thuộc lần thứ hai (北屬時代, 43-541) của nước ta, khi bên Bắc quốc nhà Hán (漢朝, 203 tCn–220) đổ, Âu Lạc (甌貉, 257 tCn - 207 tCn) khi đó gọi là Giao Châu (交州, 203-679) do Đông Ngô cai quản (210-263).
- Ngô (, còn gọi là Hoài Nam 淮南 hay Dương Ngô 杨吴 hoặc Nam Ngô (南吴, 902-937) là 1 trong 10 nước 十國 ở miền Nam thời “Ngũ đại thập quốc” (五代十國, 907-960).
1.2. Tuy nhà Ngô (東吳, 222–280) cai trị nước ta chỉ nửa thế kỷ (210-263) và sau nhà Ngô, nước ta còn bị các nhà Tấn (, 265-420), Lưu Tống (, 420-478), Nam Tề (南齐, 479-520), Lương (, 502-507), Tùy (, 580-618), Đường (唐朝, 618 – 907), Tống (宋朝, 960–1279), Nguyên (元朝, 1271–1368), Minh (明朝, 1368–1644) và Thanh (清朝, 1644 – 1912) xâm lăng hoặc cai trị, ít hay nhiều năm. Nhưng Đông Ngô gây "ấn tượng" với Đại Việt bởi:
- Năm 264, nhà Ngô chia đất Giao Châu ra, lấy Nam Hải, Thương Ngô và Uất Lâm làm Quảng Châu (cho Lữ Đại làm Thứ sử), lấy đất Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam làm Giao Châu (Đái Lương làm Thứ sử), đặt trị sở ở Long Biên nên Giao Châu mới thu hẹp nhiều và là lãnh thổ của Đại Việt về sau.
- Các quan cai trị Giao Châu rất tàn ác, đặc biệt Lã Đại, Tôn Tư nên dân ta rất oán hận bọn thống trị nhà Ngô. Chính dưới chế độ này đã xảy ra cuộc khởi nghĩa của Triệu Trinh Nương (趙貞娘, 225-248) vào năm 248.
Sự oán hận sâu sắc đó được lưu truyền thành ấn tượng!
1.3. Trên cơ sở đó, từ “Ngô” nhập vào vốn ngôn ngữ dân gian của Đại Việt trải qua hàng nghìn năm, nó được dùng để chỉ quân giặc phương Bắc nói chung với thái độ khinh bỉ. Ngoài ra, trái bí lấy giống từ bên Tầu gọi là “bí ngô”, trái bắp lấy giống từ bên Tầu gọi là “bắp ngô”, trai gái lăng nhăng gọi là “thằng ngô con đĩ”, rồi:
Tham vàng lấy phải thằng Ngô
Đêm nằm như thể cành khô chọc vào...
Hay:
Mang hàng đi đổi bên Ngô
Đừng có tơ tưởng rằng mơ được vàng.
Bao giờ cua biển không càng,
Lươn đồng có gọng mới mang vàng về.
Dưới con mắt dân gian, VUA NGÔ CHỈ NGANG CHÚA CHỔM:
Vua Ngô ba sáu tàn vàng
Thác xuống âm phủ chẳng mang được gì
Chúa Chổm uống rượu tì tì
Chết xuống âm phủ khác gì vua Ngô?.
Các cụ ta xưa hay nói "ngô ngọng", "ngô nghê", "ngố Tàu",.... có lẽ một phần do đây và cũng bởi, dưới con mắt dân ta thì người Tầu hay nói ngọng!
1.4. Khi kết thúc thắng lợi khởi nghĩa Lam Sơn 藍山蜂起 , ngày 29 tháng 4 năm 1428, Bình Định Vương 平定王 Lê Lợi 黎利 làm lễ lên ngôi ở điện Kính Thiên tại Đông Kinh, đại xá thiên hạ, giao cho Triều liệt Đại phu Nhập nội Hành khiển Lại bộ Thượng thư kiêm Hành Khu mật viện sự Nguyễn Trãi (阮廌, 1380-1442) thảo bản tuyên cáo kết thúc cuộc kháng chiến chống Minh, giành lại độc lập cho Đại Việt. Đó là bài Bình Ngô đại cáo 平吳大告 bá cáo cho thiên hạ biết về việc đánh thắng giặc Minh, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế năm, tức là vua Lê Thái tổ (黎太祖, 1428-1433) dựng lên nhà Hậu Lê (後黎朝, 1428 - 1788).
Tuy viết là “Bình Ngô” nhưng từ thảo dân cho tới quân vương, ai ai cũng hiểu là “bình trị giặc Minh”. Đây không phải là Thái học sinh 太學生 tránh chữ “” (Minh, chỉ nhà Minh (明,1368-1644), chiếm Đại Việt thời đó) theo phép "kị húy" mà cụ Nguyễn đã dùng từ dân gian để tỏ rõ ý khinh miệt, căm phẫn mà toàn dân ai cũng hiểu. Hơn nữa nếu viết 平明大告 (Bình Minh đại cáo) thì dễ hiểu sang ý “bài cáo chào mừng ngày mới”!
Ngay trong bài, cụ Nguyễn đã rố cáo sự tàn bạo của “Giặc bên Ngô”: “焮蒼生於虐焰, 陷赤子於禍坑”(“nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”)
1.5. Tóm lại, trong ngôn ngữ dân gian và văn chương Đại Việt thì “Ngô” tức là “giặc Tầu”, là “chệt”, là “xấu”…
2. KHÔNG BẰNG BÀ CÔ BÊN CHỒNG
2.1. Bà cô bên chồng, tức là chị hay cô em gái người chồng. Nhưng có nơi như quê tôi và vùng đồng bằng khu 3 cũ nói chung đều gọi chị gái, em gái của bố bằng “cô” cũng như miền Trung gọi bằng “o” vậy!.
2.2. Thông thường theo dân gian thì: Chị gái và em gái chồng thân mật với mẹ chồng và được mẹ chồng tin yêu hơn, vì là con đẻ. Em gái, chị gái chồng (đặc biệt mấy bà cô chậm chồng, không chồng hoặc góa chồng thì khô khan và xét nét, tâm tính khó khăn) thường hay đe nẹt, dòm ngó ý ăn, ý ở của chị dâu hay em dâu và lại xúi bẩy thêu dệt thêm với bà mẹ nên mẹ chồng càng khắc nghiệt với con dâu mình. Do vậy các nàng dâu nghĩ sự tàn ác của “giặc bên Ngô” chưa bằng chị, em gái của chồng.
2.3. Xuất xứ câu nói:
Có người kể với tôi rằng: “câu này có thời nước ta còn nội thuộc triều đại nhà Đông Ngô (, 220-265) thời Tam Quốc (三國, 220-280).
Ngày đó, ở quận Cửu Chân (玖甄, Thanh Hoá ngày nay) có bà Triệu Thị Trinh (趙氏貞, 225–248 có sách ghi tên là Bà Triệu 婆趙) người vùng núi Quân Yên (hay Quan Yên), quận Cửu Chân (nay thuộc làng Quan Yên hay còn gọi là Yên Thôn), xã Định Tiến, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Cha mẹ mất cả, ở với anh là Triệu Quốc Đạt (趙國達, ?-248), một hào trưởng ở Quan Yên vào năm 246 từng tụ binh khởi nghĩa chống lại nhà Đông Ngô.
Năm 19 tuổi, đáp lời người hỏi bà về việc chồng con, Bà nói: 我要乘劲风,踏恶浪,斩杀东海的鲸鱼,驱逐吴军,光复河山,砸烂奴隶枷锁,决不卑躬屈膝地做人家的妻妾!(Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người!
Lớn lên, Triệu Thị Trinh là người có sức mạnh, giỏi võ nghệ, lại có chí lớn. Đến độ 20 tuổi gặp phải người chị dâu (vợ ông Đạt) ác nghiệt, bà giết chị dâu rồi vào ở trong núi Nưa (nay thuộc các xã Tân Ninh huyện Triệu Sơn, Mậu Lâm huyện Như Thanh, Trung Thành huyện Nông Cống, Thanh Hoá), chiêu mộ được hơn ngàn tráng sĩ.
Năm Mậu Thìn (248), thấy quan lại nhà Đông Ngô tàn ác, dân khổ sở, Bà Triệu bèn bàn với anh việc khởi binh chống lại. Lúc đầu, anh bà không tán thành nhưng sau chịu nghe theo ý kiến của em (xuất xứ câu “Lệnh Ông không bằng Cồng Bà” cũng từ ý nầy nhưng đa phần mọi người hiểu rằng quyền vợ lấn lướt chồng!!!). Nghĩa quân thấy bà dũng mãnh, can đảm bèn tôn bà làm chủ. Khi bà ra trận cưỡi voi, mặc áo giáp vàng, rất là xinh đẹp nên quân sĩ tôn gọi là Nhuỵ Kiều tướng quân 蕊嬌將军.
Sử cũ còn ghi: Năm Mậu Thìn (248), Ngô chủ là Tôn Quyền (孫權, 182 – 252) sai Lục Dận (陸胤, ?-?) sang làm Thứ sử Giao châu 交州刺史 đã đem theo 8.000 quân, dùng của cải mua chuộc một số lãnh tụ địa phương để làm suy yếu và chia rẽ lực lượng nghĩa quân.
Những trận đánh ác liệt đã diễn ra tại căn cứ Bồ Điền, đến mức quan quân nhà Đông Ngô phải thốt lên: “横戈当虎易,对面婆王难Hoành qua đương hổ dị, Đối diện Bà Vương nan; tức: Múa giáo đánh cọp dễ, Đối mặt Vua Bà thì thực khó). Song do chênh lệch về lực lượng và không có sự hỗ trợ của các phong trào đấu tranh khác nên căn cứ Bồ Điền bị bao vây cô lập, và chỉ đứng vững được trong hơn hai tháng.
Triệu Thị Trinh chống đỡ với quân Đông Ngô được năm sáu tháng thì thua. Bà Triệu đã tuẫn tiết trên núi Tùng (xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa) vào năm Mậu Thìn (248), lúc mới 23 tuổi. Có giai thoại nói rằng tướng giặc lợi dụng việc phận nữ nhi đã truất bỏ y phục trên người khiến Bà Triệu từ đó xấu hổ mà dẫn đến tự tử.
Nước Việt lại bị nhà Đông Ngô đô hộ cho đến 265, tiếp theo là nhà Tấn (晉朝, 266–420).
Dựa vào câu chuyện lịch sử bà cô giết cả chị dâu ác nghiệt, khởi binh đánh giặc làm quân Ngô bạt vía nên mới xuất hiện câu thành ngữ nói trên”.
2.4. Theo tôi nhớ đã có lần đọc một tài liệu với dị bản khác.
Chuyện xẩy ra vào thời Khởi nghĩa Lam Sơn (起義藍山, 1418-1427). Chuyện rằng thời đó, có một viên tướng của Bình Định Vương Lê Lợi (黎利, 1385-1433) mải đánh trận bị lạc. Giặc Minh (大明, 1368–1644, chiếm nước ta trong kỳ Bắc thuộc thứ Tư, 安南屬明時期, 1407–1427) quây ráp và định bắt sống.
Ông chống trả quyết liệt và trong lúc nguy cấp ông đã cầu mong Tổ Cô nhà mình phù trợ. Đột nhiên, một trận cuồng phong nổi lên, quân giặc mất phương hướng, ông cùng chiến mã thoát hiểm trở về với đại quân.
Từ đó xuất hiện câu này, ý nói có bà cô phù hộ thì giặc Ngô (chỉ quân xâm lược nhà Minh) dù mạnh cũng không làm gì nổi.
Rất tiếc nguyên văn và nguồn tư liệu đó tôi quên mất, liệu có ai biết không?
3. Cũng từ câu chuyện trên mà TRONG DÂN GIAN CÓ CÂU:
Dù gian ác, vẫn thấp cơ,
Thua mưu, thua trí Tổ Cô dân mình!
Và các cụ ta rất nhân nghĩa khi nói:
Giặc Ngô rồi cũng về Ngô,
Làm Dâu mãi với bà Cô bên chồng.
(Lương Đức Mến, soạn lại tháng 9/2017 từ 2 bài bản thân viết trên Facebook)
Phần đầu hay tóm tắt Phần còn lại hay mở rộng

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

QUY TRÌNH 5 C + 6 Ệ = 2 Ệ

Chưa bàn đến chuyện 5 “Xê”,
Mới xem 6 “Ệ” đã tê tái lòng:


TIỀN TỆ sớm sẵn lót trong, 
HẬU DUỆ đổi chác, quay vòng giúp nhau.
QUAN HỆ xây đắp nhịp cầu,
NGOẠI LỆ các chú nhớ câu “người nhà”.
ĐỒ ĐỆ quanh quẩn đâu xa, 
TRÍ TUỆ để đó tà tà xét sau.


Cứ thế chúng nối đuôi nhau,
"Quy trình đúng cả", lấy đâu thực tài.
Để rồi chễm chệ rõ oai:
Việc dân MẶC KỆ, chẳng ngoài... DỆ MAU!



Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Chủ Nhật, 17 tháng 9, 2017

CHUYỆN TÌNH KHÔNG DANG DỞ

Hồi nhỏ thầy (quê tôi gọi bố thế) bảo tôi: “Các cụ xưa dạy: cùng họ kết thân, cùng tên thì đừng”! Sau này tôi biết các cụ đúc kết trong hôn nhân là “Cùng tuổi thì nên, cùng tên thì đừng”, còn thầy tôi mượn nó để dạy bảo con cháu nội tộc nhưng ở đây tôi vẫn dùng câu phụ thân dặn!
Lớn lên dun dủi thế nào, dù rất nhớ lời cha nhưng tôi “vướng” cả 2!
1. Với TÌNH NHÂN cùng họ:
Hồi sắp tốt nghiệp Cấp 3, nàng cứ băn khoăn, xa lánh tôi bởi cái thân hình “lướt cỏ bợ” và cái lý lịch xuất thân bố “đại tá... điền”!
Nhưng rồi với bao nỗ lực, vượt muôn gian khó bằng chính bàn tay và khối óc của mình, tôi đã chính phục được nàng. Và chúng tôi cặp bồ, cùng nhau ấp ủ ước mơ, gieo mầm trong suốt 7, lăn lộn dù bên bờ Suối Hai hay về Hà Đông, xuôi Sài Thành, lên Việt Trì, vào Hòa Bình hoặc ngược Lào Cai!
“Hoàng Thiên bất phụ hảo tâm nhân” (皇天不負好心人), trời đã không phụ tấm chân tình của tôi nên từ tháng 4 năm Tân Dậu ấy nàng đã về hẳn với tôi!
Từ đó chúng tôi gắn bó với nhau nhưng cái tính đỏng đảnh của nàng và tính thẳng mực tầu của tôi nên sự gắn bó đó như là hình Sin! Vài năm một bận mức gắn bó lại nâng cấp hẳn về chất, mỗi tháng một lần háo hức rồi hụt hẫng!
Tệ cái tính nàng đỏng đảnh lại bị cái hào nhoáng ngoài xã hội lôi cuốn nên tình cảm với tôi cứ hụt dần và nàng đi theo người khác, đến kỳ mới lại trở về!
Từ ngày về hưu, nàng chung tình theo kiểu “đẳng thức” với tôi, chả tăng vụt nữa nhưng tình cảm kiểu hình Sin thì vưỡn vậy!
Nhưng dù sao, tôi rất yêu nàng và sẽ gắn bó suốt phần đời còn lại, 'lương” ạ!
2. Còn TÌNH DUYÊN cùng tên: từ 1 đầu năm 1955, đến cuối 1981 tôi đã nhân đôi thành cặp Song Mến.
Rồi tuần tự như tiến: 1983 là 3, 1985 thành 4 và tới 2009 lên 5, 2011 thành 6!
Trời thương, năm Thìn 2012 “Song Long đáo hải” vọt thành 8, đến Quý Ngọ 2014 lên 9 và khi tôi tròn Hoa Giáp vào năm Ất Mùi (tháng 1/2016) CHẮN CHỤC!
Đúng là:
Trông lên thì chẳng bằng ai,
Trông xuống tôi rõ vẫn oai nhất nhà!
Một sự trùng hợp ngẫu nhiên là chuyện TÌNH và DUYÊN của tôi gắn với sự kiện đặc biệt là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành tờ giấy bạc “có một không hai” trên thế giới là tờ có mệnh giá 30 đồng (không phải là ước số của 100!). Đó là vào năm khởi đầu (1981) và năm sinh Trưởng Nam (1985).
- Hậu cơn bão số 10, 17/9/2017-

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Tư, 13 tháng 9, 2017

GIẤU và KHOE

Người lo giấu đất mấy lô,
Giấu xe mấy cái, giấu bồ mấy nơi.
Còn tôi, xưa vốn "dở hơi",
Giấu được ít vốn, hưu rồi đem khoe.
Có lần vợ giận, canh me:
“Rõ hâm! tiền thiếu, ích gì văn thơ.
Chữ nhiều chỉ tổ ngu ngơ,
Những điều em muốn, anh lo được gì?”.
Bực mình, tôi vạch ra khoe:
"Tóc nhiều sợi bạc, dáng đi hơi còng.
Lại thêm gan ruột rối tung,
Sỏi đầy hai thận, cái ngồng vẫn nguyên.
Chòm râu cái thẳng cái xiên,
Miệng to toang hoác, vẹn nguyên tiếng cười.
Hai con thành bốn đủ đôi,
Thêm ba đứa cháu - người ngoài đang mong".
Thôi em hãy tạm bằng lòng:
"Của, Tiền tuy ít nhưng không kém đời!
Biết đâu vật đổi sao dời,
Trúng số độc đắc, khối người phát ghen"!

Bài đã đưa lên trên Facebook từ 10/9/2014

(https://www.facebook.com/men.phamthi/posts/787014014694566?notif_t=feedback_reaction_generic&notif_id=1505048702225438)

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...

Thứ Bảy, 19 tháng 8, 2017

Cảm nghĩ NGÀY TRUYỀN THỐNG LLKTHS

Ngày 23/02/2013 tôi 58 tuổi, đến hạn tuổi cao nhất phục vụ trong CAND nên từ giữa năm 2012 tôi đã phân nhiệm việc điều hành đơn vị cho cấp phó trực tuần, không ký các KLGĐ nữa, trừ những trường hợp thật cần thiết. Và đến hôm nay đã nhận Quyết định, lĩnh lương hưu sang năm thứ 4
Hôm nay, trong buổi gặp mặt này, được Ban tổ chức giới thiệu, xin phép các đ/c lãnh đạo và các đồng chí có 3 nhóm ý kiến.
Thứ nhất: Xin khẳng định rằng trên thế giới việc Hình thành, phát triển KHHS trở thành một ngành khoa học độc lập trên thế giới là một tất yếu, khách quan từ rất lâu. Điều đó có Cơ sở khoa học đầy thuyết phục, từ những người đặt viên gạch đầu tiên như Imhotep (2650-2600 tCn), Hippocrates (460 tCn- 370 tCn), Julius Caesar (100-43 tCn)...Sau đó nó phát triển trong thời cận đại và đến thời hiện đại nó chính thức trở thành ngành khoa học độc lập khởi đầu từ “nhân trắc học” (anthropometry) gắn với công lao của Alphonse Bertillon (1853-1914). Sang thế kỷ XXI và hiện nay tất cả những thành tựu mới nhất của KHXH&NV, KHTN&CN đều được KHHS nghiên cứu, ứng dụng để phục vụ cho cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và nó phát triển không ngừng.
Việt Nam, phải tới những năm 1955-1960 thì vai trò của KTHS mới được chính thức ghi nhận. Nhưng biện pháp này đã được chúng ta triển khai ngay từ khi Cách mạng mới thành công với Ban Căn cước gồm những CBCS chiếm lĩnh phòng hồ sơ, bộ phận căn cước của Sở Liêm phóng và một số người lưu dung. Từ đó, lực lượng này đã trưởng thành cùng với quá trình vận động của công cuộc kháng chiến kiến quốc, đấu tranh thống nhất đất nước, bảo vệ tổ quốc và xây dựng CNXH.
Lào Cai (cũ), cũng như các địa phương khác, ban đầu bộ phận KTHS trực thuộc Ban Trị an hành chính. Khi trên Bộ thành lập Cục Kĩ thuật nghiệp vụ thì từ 1962, bộ phận KTHS tách về Phòng Kĩ thuật nghiệp vụ theo Thông tư số 88/TCCB. Trong những ngày khởi lập đó, lực lượng KTHS chủ yếu thực hiện việc KNHT và lập CCCP đã có những đóng góp vào công tác chung của Ty CA Lào Cai: tham gia KNHT sớm tìm ra thủ phạm sát hại lẫn nhau giữa 2 con bạc xẩy ra vào một đêm tháng 2/1947 ở Phố Tèo, Tx Lào Cai, kịp thời chặn đứng được ý đồ kẻ địch lợi dụng vu khống để  kiếm cớ lật đổ chính quyền dân chủ non trẻ.
Tỉnh Hoàng Liên Sơn được thành lập, Bộ Nội vụ có Quyết định số 339/NV-QĐ ngày 28/01/1976 thành lập Ty CA  Hoàng Liên Sơn với 20 phòng, ban. Khi đó, bộ phận KTHS thuộc Phòng Trinh sát kĩ thuật bao gồm những cán bộ làm công tác này của Ty Công an Lào Cai (anh Hồ Sĩ Tam...), Nghĩa Lộ (anh Nguyễn Huy Triều...), Yên Bái (Uẩn,...) gọi tắt là Đội 5 đã sớm đảm nhiệm chức năng ngay từ những ngày đầu. Khi triển khai Nghị định 250/CP  ngày 12/6/1981 của Hội đồng Chính phủ, tại Công an HLS, ngày 10/7/1981 Thứ trưởng Trần Đông kí Quyết định thành lập Phòng Điều tra xét hỏi-Kĩ thuật hình sự, lực lượng KTHS (Đội 5) chuyển về phòng này được biên chế trong lực lượng Cảnh sát và công tác KTHS đã được thống nhất từ TW tới địa phương. Đến tháng 5/1985 Phòng KTHS Công an Hoàng Liên Sơn được thành lập và sau đó cá nhân tôi được đề bạt trưởng phòng này thay anh Hoàng Sáng bởi QĐ số 04 CAQĐ do GĐ Hoàng Tuyển kí ngày 25/4/1990. Trước đó tôi đã được UBND tỉnh Hoàng Liên Sơn bổ nhiệm PTP Điều tra xét hỏi ở tuổi 29.
Sau khi có Nghị quyết ngày 12/8/1991 của Quốc hội, ngày 04/9/1991 Bộ trưởng Bộ Nội vụ có Chỉ thị số 04 CT/BNV(V11) về các mặt công tác công an thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về điều chỉnh địa giới một số tỉnh thành. Sau đó Bộ có Quyết định số 150/QĐ-BNV ngày 16/9/1991 về bộ máy Công an tỉnh Lào Cai, Yên Bái. Theo đó, bộ máy của CA tỉnh Lào Cai có 20 phòng nằm trong 2 BCHANND, BCHCSND và các phòng trực thuộc.
Trong 20 phòng ban ngày đó có phòng KTHS  PC21 thuộc BCHCS với Trưởng phòng là Đại úy Lương Đức Mến (QĐ số 38 do kí ngày 21/9/1991) và có 6 CBCS (QĐ số 36 kí ngày 10/9/1991). Từ đó đến nay đã 26 năm nhiều phòng được tách nhập, thay nhiều đời TP, duy nhất KTHS vẫn là một phòng độc lập, tuy có thay phiên hiệu từ PC21 sang PC54 và mới có TP đời thứ 2! 
Từ đó đến nay có chuyển đến, tuyển dụng mới, chuyển đi, chuyển vùng và xuất ngũ, đơn vị được trang bị tương đối đầy đủ các phương tiện chuyên dùng cần thiết , triển khai đủ các bộ môn nghiệp vụ theo phân cấp. KLGĐ của đơn vị thực sự có uy tín đối với các Cơ quan THTT. Liên tục đạt ĐVTT, nhiều năm được UBND tỉnh và Bộ Tư pháp tặng Bằng khen.
Thứ hai, về cá nhân, Tính đến khi nghỉ hưu, 40 năm trong LLVT (1973-2013, có 8 năm đi học tại trường CA và QĐ), 32 năm (1981-2013) đứng trong đội ngũ KTHS với nghề lao động đặc biệt, nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm là Pháp y (loại V, loại VI theo Danh mục quy định tại Quyết định số 44/LĐTBXH-QĐ ngày 29 tháng 01 năm 1997 của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội), 29 năm (từ 1984) trên cương vị lãnh đạo trong đó có 23 năm (từ 1990) là Trưởng phòng; nhiều khóa tham gia BCH Đảng bộ, UBKT Đảng ủy, liên tục là Bí thư Chi bộ từ 1985; 8 năm là Ủy viên Thường trực HĐPY tỉnh (1982-1990), tham gia BCH Hội Pháp y Việt Nam Khóa I...Nhìn lại thấy cũng đã làm được một số việc tuy nhỏ bé nhưng là những viên gạch, hạt cát đóng góp cho sự nghiệp xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng KTHS-PY nói riêng và Công an tỉnh Hoàng Liên Sơn cũng như Lào Cai nói chung sau này. Tôi vui vì sự đóng góp của mình đã được đơn vị, CA tỉnh, tỉnh, Bộ Công an và Nhà nước công nhận; đồng đội, đồng nghiệp biết đến. Đó là từng được tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương, Kỷ niệm chương, Bằng khen, Giấy khen của các ngành, các cấp; nhiều năm là Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh, CSTĐ toàn lực lượng và CSTĐ cơ sở; chưa bị kỷ luật thành văn. Lãnh đạo đơn vị liên tục đạt Tiên tiến, nhiều năm đạt Quyết thắng. Rồi những danh xưng không chính thức, như “Mến còi”, “Trưởng bản”, “Chuyên gia phát biểu, sửa văn bản”, “Trưởng phòng đòi hỏi chính sách”...là “thương hiệu” mà đồng đội ban tặng.
Với tính thẳng, dám nghĩ, dám làm, dám nói; được đào tạo cơ bản lại là con trưởng, trưởng chi, trưởng ngành rồi làm Trưởng phòng đến ngót 30 năm nên cũng có những vị lãnh đạo, đồng cấp và thuộc cấp không mấy ưa, có người còn cho là “ngang”, “nói liều”, “suồng sã”, “cãi lãnh đạo”. Nhưng nhìn lại tôi không có ân hận, hối tiếc gì.
Nhân đây tôi muốn ôn lại rằng: tôi là một trong số 20 người mà cách đây 43 năm đang học tại Trường CSND ở Suối Hai, có người vào năm 1973 (K17), người vào năm 1974 (K18) thì tháng 5/1974, Bộ cho ôn thi Đại học. Lúc đầu có 300, sau chọn được 120, rồi còn 60. Vừa học nghiệp vụ, vừa ôn cả ở 3 khối: A, B, C.
Trong khi chờ kết quả thi Đại học, tháng 8/1974 chúng tôi được chọn đi lao động xây dựng Lăng Bác (Công trường 75808).
Ngày 18/9/1974 20 học viên (K17, 18 TCSND và D5, D6 ĐHAN) trên 19 điểm tập trung tại C500 (Học viện An ninh ngày nay). Tại đây chúng tôi được nghe ông Quách Quí Hợi (Vụ phó Vụ Tổ chức cán bộ Bộ Công an) phổ biến giao nhiệm vụ.
Theo đó, ngành CA có kế hoạch xây một BV “kiểu mẫu” trên Tam Đảo . Bọn tôi thuộc diện đào tạo cho kế hoạch này: mỗi năm 20 người,  5 khoá đủ 100 nên theo QĐ của Bộ,  những người đỗ vào Đại học đều vào học tại Đại học Quân y (dù thi khối A, C hay B). Ông còn yêu cầu chúng tôi cố gắng học tập trở thành Bác sĩ giỏi còn phải phấn đấu trở thành Đảng viên (ngày đó các trường đại học chưa chú trọng vấn đề này), trở thành một sĩ quan có bản lĩnh.
Nghe thế, những thanh niên mới lớn như chúng tôi rất phấn khởi, tin vào tiền đồ của mình và ai cũng nung nấu một quyết tâm, nuôi dưỡng một hoài bão.
Nhưng khi 20 chúng tôi tốt ngiệp, nhận bằng (03/1981) thì là lúc “anh bạn lớn” trở mặt mạnh, thủ đô không thể vượt phía Bắc sông Hồng được, nên KH xây BV lớn của CA dừng lại. Bọn tôi đâm ra “ế” ! Chưa có lực lượng nào bên CA nhận, nhưng cũng chưa ái có ý kiến cho chúng tôi “tự liên hệ công tác” như những năm sau 1990s.
Tiến sĩ Nguyễn Văn Hùng khi đó đang muốn khuyếch trương ngành Pháp y CAND, được Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn ủng hộ việc đưa các Bác sĩ trẻ này về đấy. Thế là từ 01/4/1981 tất cả 20 chúng tôi có quyết định về Viện Khoa học hình sự (khi đó có mật danh D44 còn chưa thuộc LLCSND và đóng quân khắp các Đền, Chùa Hà Nội tuy có trụ sở chính do CHDC Đức viện trợ xây ở Gia Khánh, Tam Đảo, Vĩnh Phúc). Trước mắt chúng tôi ở Nhà khách Bộ (17 Nguyễn Thượng Hiền). Chính tại đây, tháng 8/1981 tôi được thầy Hùng dẫn đến gặp đ/c Phạm Kham giám đốc CA HLS đang về Bộ họp để giới thiệu về HLS (hợp lý hóa gia đình) để tháng 11 tôi về nhận công tác tại đây và được điều về PC16-21.
Thế là trong suốt 6 năm học chúng tôi chưa từng được nghe giảng, xem thực tế, thực hành một tiết nào về Pháp y lại được gom tất cả vào chuyên ngành chẳng ai ngờ và ít người biết đến này. Đúng là:
Tuổi thơ trải lắm chông gai,
Thi Vô tuyến Điện lại ngồi Quân y .
Những gì mài đũng nhẵn lỳ,
Ra trường chẳng dụng - khó bề sở xoay.
Đến nay, trong số 20 SVCA học ĐHQY đến nay có 4 chuyển ngành, 1 mất nhưng lại bổ sung 5 từ Quân đội chuyển sang nên tổng số Bác sĩ trong CAND từ lò luyện ĐHQY đến nay vẫn là 20! Một sự trùng hợp lý thú!
Thứ ba, Đối với các CBCS trẻ, tôi xin có đôi lời tâm sự:
1.  Là người cùng với 9/20 BsK69ĐHQY gắn bó hơn 30 năm với công tác (dù trực tiếp hay gián tiếp) mà trong những năm tháng “mài đũng quần trên giảng đường” chưa được học, nếm trải đủ những nhọc nhằn, căng thẳng và sự thiệt thòi của nghề cũng như những quan niệm bất cập, mâu thuẫn nhau của những người có quyền nay ngồi soạn bài phát biểu theo yêu cầu của đ/c kế nhiệm tôi “thấu cảm” rằng:
- Rõ ràng ngành và nghề chọn chúng tôi chứ tôi cùng 20 bạn học trường CA năm 1974 đâu có chọn Y, lại càng không chọn Pháp y và KTHS!
-  Trong ngành Y có một bộ phận, trong CA có một lực lượng ít được xã hội biết đến, muốn con em vào. Đó là Pháp y và KTHS, một chuyên khoa đòi hỏi nhiều chất xám, trách nhiệm pháp lý lớn nhưng người dân, cơ quan quản lý, cơ quan tiến hành tố tụng còn chưa hiểu hết đóng góp của nó với cuộc sống do vậy chưa có sự đánh giá, đầu tư, quan tâm, vinh danh, đãi ngộ đúng mức. Nhiều bạn chuyển ngành, sang sân khác là hợp lẽ!
- Nếu cứ tình trạng này thì sớm muộn nghề này sẽ “teo” dần trong khi nhu cầu ngày càng cao! Do vậy, hồi đương chức, có lần tôi đã ao ước:
Đã điều tra phải cần bổ trợ, có luật sư và có pháp y;
nên dẫu yếu vẫn cần khai triển, đành vừa làm lại vừa củng cố.
Trách ai khiến tình hình phức tạp, án mỗi ngày tăng;
trách người xui chậm chạp triển khai, tiền bay theo gió.
Phải biết thương cho người giám định, động viên kịp thời mới gọi là khôn;
chớ nghe theo cái đám thầy dùi, mải lo thành tích án sẽ mau xếp xó.
Thà tốn mà được kết luận hay, đảm bảo nghiêm minh mới rõ là vinh;
hơn còn mà gặp nhận định sai, chắc chắn oan sai thì càng thêm khổ.
2. Nếu cần một lời khuyên, tôi xin lưu ý rằng: nghề KTHS, PY rất khó HTNV chứ chưa nói HTXS nếu chúng ta không có tâm huyết, không chịu khó học hỏi, tự học, tự nâng cao kiến thức; nghề của ta tuy khó nhưng cũng rất dễ làm giàu, nếu chúng ta thiếu sự tỉnh táo, thiếu lương tâm trách nhiệm mà chỉ biết cố làm giàu bằng mọi giá! Nghề này không “tiết lộ thiên cơ” như thầy bói, chẳng “Cưỡng lại mệnh trời” như thầy cúng mà chỉ bổ trợ để ra và chứng minh sự thật như nó vốn có bằng chứng cứ vật chất. Bởi vậy nó bền vững và thường được hưởng hồng phúc lúc cam go. Kinh nghiệm đời tôi, tôi biết “giúp người đâu để mong người trả ơn” nhưng cuộc đời sẽ ban ân huệ cho chúng ta.
Các bạn hãy cùng tôi tâm niệm rằng: ĐỜI CÓ THỂ QUÊN TA NHƯNG CHÚNG TA KHÔNG THỂ QUÊN TA VÀ CÀNG KHÔNG ĐƯỢC QUÊN NHAU.
Xin đọc lại bài thơ tôi viết lúc nghỉ hưu, từ 2013:
TÌNH NGƯỜI KỸ THUẬT
Miền quê nước lợ sinh tôi,
Nhưng tôi lớn giữa đất trời biên cương .
Nhớ buổi Thu sớm mờ sương,
Vạch rừng đốt đuốc soi đường đi thi.
Bẩy năm học mới thành nghề ,
Chẳng là Nội, Ngoại, Sản, Nhi khoa nào.
Đất này, nghiệp ấy gửi trao:
Pháp y công việc biết bao ngỡ ngàng.
*
Yêu vùng quê mới khai hoang,
Rời Viện, trở lại tỉnh Hoàng Liên Sơn .
Bén duyên lấy vợ sinh con,
10 năm 4 bận chuyển dồn chung cư .
Chuyên Tâm, luyện Trí, thuận đò,
Tới năm Canh Ngọ  được giao Trưởng phòng.
Bao lần nắng Hạ, gió Đông,
17 huyện thị  bước cùng anh em.
Đến khi tách tỉnh về biên,
Vẫn yên nghiệp cũ nhiều phen ngập ngừng .
*
Bãi sông, đường lớn, mái rừng,
Phố đông, bản vắng đều từng đã qua.
Kia vụ trộm, nọ cháy nhà,
Đây vụ án mạng hay là  không may?
Phải đâu tất cả phơi bày,
Có đi nhập cuộc mới hay khôn cùng.
Này Quai, này Xoáy, này Cung,
Đâu đường tách nhánh, đâu vùng hợp biên.
Chữ này nét móc, nét xiên,
Chữ kia quai thắt, nét liền run run.
Ấn chỉ này chẳng cùng khuôn,
Chắc rằng giấy giả thêm buồn người mang.
Sắc đồ hợp vạch rõ ràng,
Là ma túy đó cùng “nàng tiên nâu”.
Đây người ai oán cơ cầu,
Mức di chứng ấy xếp đâu cho vừa?
Buồn vui trong việc kiểm tra,
Giám sát rành rọt thực là nghiêm minh .
*
Ra đi khi tóc còn xanh,
Nay đầu bạc mái, nghiệp ngành chia tay.
Ngoảnh nhìn thoáng chút men say,
Tình này gửi lại những ngày xa xưa.
Ba Hai năm  sống trong nghề,
Lời khen đã lắm, tiếng chê cũng nhiều.
Mặc ai nắng sớm mưa chiều,
Riêng ta ta vẫn ghét - yêu rõ ràng.
Mặc ai lựa việc cao sang,
Riêng ta, “Kỹ thuật” thủy chung trọn đời.
Nay việc ấy đã xa rồi,
Phòng kia, dấu ấy gửi người lớp sau.
Ra về xin nhắn một câu:
Tình yêu Kỹ thuật trước sau ngọn ngành.
*
Bốn mươi năm  nặng nghĩa tình,
Về hưu vẫn nhớ đinh ninh lời thề.
Nhớ lời dạy của Bác Hồ,
Nhớ tình đồng đội, nhớ nghề đã theo.
Tình riêng chẳng biết nói nhiều,
Gửi người ở lại đôi điều trao nhau.
Nghĩa tình trọn ven trước sau,
Niềm vui san sẻ, nỗi đau chia cùng.
Anh em quyết một chữ “đồng”,
Sao cho mẫu mực cùng chung chuyên cần.
Cuối cùng, xin kính chúc lãnh đạo CA tỉnh, các phòng, ban, cùng toàn thể CBCS, nhất là các đ/c KTHS lời chúc sức khỏe, phát huy những thành tựu đã đạt được, phấn đấu không ngừng để trong những năm tới chúng ta không chỉ có được những danh hiệu cao quí mà còn có hệ thống cơ sở vật chất đàng hoàng, to đẹp hơn; có được lòng tin của nhân dân các dân tộc trong tỉnh vững hơn nhiều lần... để thanh “Bảo kiếm” giữ ANTT nơi “phên dậu quốc gia” luôn sắc bén, dẻo dai và cứng cáp.

- Lương Đức Mến, ngày 19/8/2017-

Nhấn tiêu đề đọc toàn văn ...